KỶ NIỆM VÀ THỰC TẾ

Nếu xếp hạng trên thế giới về đọc sách chắc chắn tôi thuộc vào loại đội sổ. Bởi vì tôi rất ít khi, nếu không muốn nói là chưa bao giờ, đọc hết một cuốn sách. Nhưng tuần vừa rồi, tôi đã lập được một 'chiến công' (đối với tôi thôi) là đọc được một cuốn sách từ đầu tới cuối. Đó là cuốn Bút Ký Tôi Phải Sống của cha Nguyễn Hữu Lễ. Tôi bị thôi miên từ 'màn' đầu cho đến 'màn' cuối. Tôi đọc một mạch không rời ra được cho đến trang cuối mới thôi, đọc bỏ cả ăn và cả công việc. Mấy người quen nói tôi đang bị 'ma hớp hồn' vì họ chưa bao giờ thấy tôi cầm một cuốn sách lâu tới một giờ đồng hồ. Đàng này tôi cầm cuốn sách này tới mấy ngày liền. Sau hai tuần đi holiday về, tôi nhờ người bạn mua giùm quyển này cho tôi khi tôi đi vắng trong lần ra mắt sách ở Brisbane, tôi đọc một mạch mấy ngày liền, vì tôi thuộc vào loại đọc nhanh nhất thế giới tính từ dưới lên trên nên mới mất mấy ngày, chứ như mà các bậc trượng phu kẻ sĩ chắc cũng chỉ một vài ngày là cùng.

Đọc xong gập sách lại tôi lại muốn dở ra đọc lại những phần hấp dẫn lôi cuốn. Tôi không biết tí tẹo gì về bình phẩm. Tôi cũng chẳng có một chút mảy may nào gọi là phân tích để gọi nó là tác phẩm, tuyệt phẩm, hay gì gì đó nữa tôi không biết. Tôi cũng hoàn toàn mù tịt về cái gọi là chắt lọc và chiết tinh, rút ra những bài học cho cuộc đời. Tôi đọc vì bị lôi cuốn bởi lời văn và hoàn cảnh quá bi thương của tác giả trong dòng đời trải dài trên trang giấy, nhất là 13 năm trong lao tù. Và đặc biệt hơn về cái thật, theo tôi, và tâm tình cũng như quan điểm của tác giả trong tập Bút Ký đặc biệt này. Và vì đây là 'chiến công' đầu tiên tôi lập được về việc đọc sách, có thể cũng là 'chiến công' cuối cùng, nên tôi hình như muốn ghi chút chia sẻ đầu thừa đuôi thẹo gởi Bản Tin Ultreya đầu tiên của năm 2004 mà chủ đề không ít thì nhiều để chào mừng các tân Cursillista của hai Khóa 29 và 30 vừa rồi ở Adelaide.

Trước tiên, tôi phải khâm phục tài nhớ của tác giả. Nếu như tôi ở trong hoàn cảnh của ngài chắc chắn không bao giờ tôi có thể ghi lại thật đầy đủ chi tiết như vậy. Hình như tôi cảm thấy những kỷ niệm quá khứ của cha Lễ đã ăn sâu vào trong đời sống của ngài, hay nói cách khác, đã trở thành những phần đời không thể mất đi được, hoặc sẽ đi với ngài cho đến cuối đời. Và ngài đã ghi lại với tâm tình bao dung lượng thứ, với một tình yêu thương thật đặc biệt, với cách trình bày lôi cuốn đôi khi pha chút dí dỏm, với lời văn mà một tên cù bơ cù bất như tôi cũng có thể hiểu được và tôi nghĩ mọi người đều hiểu được khi đọc sách này, với những khác nhau của cái lúc xảy ra biến cố và lúc ngài đang ngồi ghi lại. Tôi cảm thấy như học được bài học rằng: "Hôm qua là hôm qua với những cái của hôm qua, hôm nay là hôm nay với những dòng suy nghĩ và cái nhìn của hôm nay, còn ngày mai sẽ mãi mãi là ngày mai với những điều rất là ngày mai..." Tôi cũng có những kỷ niệm đáng nhớ và khó quên của tuổi thơ và những lao đao vất vả kiếp nhân sinh ở tuổi mới lớn và tuổi thanh niên, nhưng không tài nào ghi ra được. Và khi đọc Tôi Phải Sống, tôi thấy mình trong đó khá rõ dù rằng so với tác giả thì tôi chỉ thuộc loại gì đó xa xôi và thấp bé lắm lắm. Dù sao kỷ niệm vẫn luôn là kỷ niệm. Vấn đề then chốt, theo tôi, là kỷ niệm đó được ghi nhớ và nhìn nhận như thế nào trong bối cảnh thực tế hiện tại. Thỉnh thoảng tôi vẫn thường hay ôn lại kỷ niệm với bạn bè nhưng mỗi lần mỗi khác trong cách nhìn và suy tư. Trong tâm tưởng đó, tôi nghĩ về những 'chiến binh' Cursillista của Thầy sau ngày nhận Sứ Vụ Lệnh lên đường chắc hẳn có những lúc sống với quá khứ dễ thương của Khóa Ba Ngày để tiếp tục những bước đi Ngày Thứ Tư dong duổi cùng và với Thầy, và với anh chị em trong Phong Trào, làm nên cái gọi là tinh thần Cursillo trong cuộc sống nơi môi trường mình đang sống, làm men làm muối cho đời. Tôi cầu mong cho các Cursillista của Thầy luôn bắc được nhịp cầu của quá khứ dễ thương ân tình Khóa Ba Ngày với thực tế hiện tại trong đời sống tông đồ Ngày Thứ Tư, nhất là trong những lúc cần nhiều trợ lực thiêng liêng cho cuộc hành trình.

Điều khác nữa khi tôi gập sách lại sau trang cuối cùng là trình tự dân tộc trong tâm hồn cha Lễ. Không biết tôi thấy có sai không nhưng tôi cảm được nơi ngài một tâm tình yêu thương và tha thiết với dân tộc, với quê hương một cách trọn vẹn. Hình như tôi nhớ được một đoạn của ngài viết, chắc chắn không phải là đoạn hay nhất của cuốn sách: "Cuối cùng rồi trên quê hương mình cũng im tiếng súng, nhưng cuộc chiến vẫn còn đó và không có người thắng, chỉ toàn là người thua. Và những người thua đó là chính dân tộc Việt Nam..." Không biết tôi nhớ có đúng không nhưng đại khái là ý như vậy. Tôi cảm nhận nơi ngài một nỗi đau với quê hương dân tộc. Điều này khiến tôi liên tưởng đến một câu hát được phổ nhạc từ lời của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận: "... vui niềm vui của đồng bào buồn nỗi buồn của dân tộc..." Và cũng dẫn tôi đi về quá khứ khi còn là một chú nhóc trong Phong Trào Hùng Tâm Dũng Chí, hồi đó tôi khoảng 9 hay 10 tuổi gì đó, hát với các nhóc tì khác trong những lần sinh hoạt: "Quê hương tôi hoang tàn, nhưng quê hương tôi không buồn, vì quê hương tôi còn nhiều, còn nhiều người không gian tham. Không tham bạc tiền không tham làm giàu dù đói không tham, không tham địa vị không tham quyền hành mà bán lương tâm."

Nếu mỗi người đều có một quê hương, thì quê hương đích thực của người Cursillista là Quê Trời. Tôi thấy nói Quê Trời hơi có vẻ xa xôi trừu tượng, dù rằng đó là thực tại của mỗi Kitô Hữu trên hành trình dương thế. Vì thế tôi tạm gọi Quê Trời của người Cursillista của Thầy hiện thân nơi chính quê hương trần thế của mình. Có thể đó là quê hương Việt Nam. Có thể đó là quê hương nơi mình đang sinh sống. Tôi cũng có thể thu hẹp 'quê hương' trong môi trường và sinh hoạt của mỗi Cursillista. Quê hương, nhìn theo một khía cạnh nào đó, là những tổ ấm thân thương, là những nơi ghi dấu ấn kỷ niệm dễ thương, có khi đáng nhớ với những thực tại không mấy tích cực như của cha Lễ khi ghi lại trong Bút Ký, nhưng với cái nhìn bao dung trong bối cảnh hiện tại, cũng có thể là những phần đời đáng nhớ và trân quí, và còn có thể nhiều thứ lắm...

Và chắc chắn là ai cũng yêu quê hương của mình cả. Mà đã nói là yêu quê hương thì không thể quên nói đến chuyện đóng góp cho quê hương. Vậy thì chúng ta, những chiến binh của Thầy, sẽ đóng góp gì cho 'quê hương' nơi môi trường chúng ta đang sống và phục vụ. Ít nhất trong phạm vi thu nhỏ đã để rồi từ đó lan rộng hơn tới quê hương chúng ta đang sinh sống và quê hương Việt Nam yêu dấu. Tôi nghĩ đây là câu hỏi cho mọi người con dân đất Việt Cursillista của chúng ta. Và chắc là mỗi Cursillista chúng ta cũng đã ghi trong Sứ Vụ Lệnh rồi.

Trong Tôi Phải Sống, tôi tin chắc còn nhiều nữa để mà trầm ngâm tư lự, để mà suy tưởng và để gợi nhớ lại những gì mà người Việt thấy được mình trong đó, nhất là những người đã từng trải qua vòng lao lý hay những phần đời lao đao lận đận. Tôi không dám lạm bàn thêm vì hoàn toàn ngoài khả năng. Tôi chỉ thấy được thật tài tình và thắm thiết cha Lễ đã bắc được cái cầu nối mà tôi tạm gọi là giữa Kỷ Niệm và Thực Tế. Kỷ niệm của những đáng nhớ cuộc đời trong đó hình như có tất cả những thực tại của cảnh sống Việt Nam và Thực Tế của cuộc sống bây giờ trên phần đất không phải là Việt Nam. Để rồi từ đó tôi liên tưởng tới Kỷ Niệm êm đẹp của Khóa Ba Ngày 29 và 30 vừa rồi ở Adelaide, và của cả chính tôi cũng ở Adelaide trong Khóa 21. Mong rằng những kỷ niệm êm đềm trầm lắng và dễ thương đó sẽ mãi mãi là những chất liệu thật tốt cho hành trình Ngày Thứ Tư của các Cursillista mang 'số báo danh' 29 hoặc 30. Và tôi tin là mhững người con (hay những người em) của Thầy Chí Thánh trong hai Khóa vừa rồi sẽ bắc được cầu nối giữa quá khứ Khóa Ba Ngày với những hình ảnh và tâm tình dễ thương trìu mến đậm đà ý nghĩa phục vụ, với thực tế trong môi trường sống của mình hiện tại và nối dài mãi cho tới tương lai, và không những cho bản thân các Cursillista mà thôi mà còn cho tha nhân nữa...

Kính chúc các Thánh Nam Thánh Nữ của hai Khóa 29 và 30, đặc biệt các thánh ở Brisbane, luôn dồi dào sinh lực và hăng say, an bình vui tươi trong những bước đường yêu thương và hy vọng sắp tới, hành trình cùng và với Thầy những Ngày Thứ Tư còn lại của cuộc đời.

Chút tản mạn vụn vặt

Kiên Nhân