|
LOAN BÁO TIN MỪNG
BẰNG HIỆP NHẤT
"Xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con" (Ga 17,21).
Đó là lời cầu tha thiết của Thầy với Chúa Cha trong bữa tiệc ly, trước khi lên đường đón nhận cuộc thương khó. Thầy đã cầu xin cho các môn đệ và cho tất cả những ai tin vào Thầy, để mọi người được nên một, một niềm hiệp thông sống động trong tình yêu sâu thẳm của Thầy.
Lời cầu nguyện của Thầy nhắc nhở chúng ta rằng: sự hiệp nhất không những là dấu chỉ chúng ta thuộc về Ngài, mà còn chứng tỏ Ngài đã được sai đến bởi Chúa Cha. Hiệp nhất cũng là trắc nghiệm về sự khả tín của mình trước sứ mạng loan báo Tin Mừng mà Thầy đã trao phó.
Chúng ta đang sống trong những tuần sau lễ Phục Sinh. Trong phụng vụ, giáo hội đã gợi lại cho chúng ta những sinh hoạt của các tín hữu hồi sơ khai. Để thể hiện niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh, họ đã sống thành một cộng đoàn hiệp nhất trong việc phụng vụ, trong việc tương thân tương ái đầy tình huynh đệ. Hiệp nhất là một trong những kết quả quý giá của đức tin, và đây đúng là một cộng đoàn lý tưởng sống theo Tin Mừng, để từ đó lan tỏa ảnh hưởng ra bên ngoài - "hữu xạ tự nhiên hương" hay "lời nói lung lay, gương lành lôi kéo".
Sách Công Vụ Tông Đồ đã tường thuật: "Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung" (Cv 2,44). Ngay cả sau khi các tông đồ gặp khó khăn trong cơn bách hại, họ không sợ mà vẫn: "các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý, thường hội họp tại hành lang Salômon" (Cv 5,12). Từ sự hiệp nhất yêu thương cao quý đó, họ đã là chứng nhân của đức tin "và được toàn dân thương mến" (Cv 2, 47). Rồi từ yếu tố "nhân hòa" thuận lợi này, đời sống hiệp nhất của họ đã là một trợ lực mạnh mẽ cho lời rao giảng của các tông đồ, làm cho công cuộc loan truyền Tin Mừng gặt hái được kết quả mỹ mãn: "có nhiều kẻ tin theo, và số người đàn ông lên đến chừng năm ngàn" (Cv 4,4), "Càng ngày càng có thêm nhiều người tin theo Chúa: cả đàn ông lẫn đàn bà rất đông" (Cv 5,14). Hiệp nhất là một yếu tính của giáo hội, cho nên đó cũng là yếu tố căn bản trong việc loan báo Tin Mừng.
Thực vậy, có thể rút kinh nghiệm của giáo hội thời sơ khai, trong tông huấn "Phúc Âm hóa thế giới ngày nay" mà chúng ta đang học hỏi, Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã xác định: "Ta muốn nhấn mạnh dấu chỉ về sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu là phương thức và dụng cụ của chương trình Phúc âm hóa", vì: "là người rao truyền Tin Mừng, chúng ta không đưa ra cho người tín hữu của Chúa Kitô, hình ảnh đám dân đang bị chia rẽ, ngăn cách vì những tranh chấp thiếu xây dựng, mà chúng ta phải đưa ra hình ảnh lớp người trưởng thành trong đức tin, có khả năng tìm ra một điểm gặp gỡ chung vượt ra khỏi những căng thẳng thực tại, để cùng chia sẻ, thành tâm và hỷ xả tìm kiếm sự thật. Thật vậy, số phận việc Phúc âm hóa được gắn chặt với sự hiệp nhất mà Giáo hội thực hiện. Đây là nguồn trách nhiệm và cũng là nguồn ủi an" (PAH/TGNN 77). Thật rõ ràng và chính xác.
Một lần nữa, Bản Tin xin được chia sẻ lại với quý anh chị một chia sẻ của Đức cha Cursillista Ngô Quang Kiệt trong những bài giảng của ngài, nhân dịp tĩnh tâm chuẩn bị năm Thánh truyền giáo của các linh mục thuộc tổng giáo phận Hà Nội vào cuối năm 2003 vừa qua, như là một dẫn chứng cho nhận định của Đức Phaolô VI:
Hạt giống đoàn kết
Tại Lạng Sơn giáo dân rất ít. Xưa kia ít linh mục, nên giáo dân phải di chuyển nhiều. Các xứ nghèo, khó khăn, có việc gì cũng đều phải nhờ các xứ khác giúp đỡ. Vì thế mà trong giáo phận, giáo dân quen biết nhau hầu hết. Một số giáo dân, nhất là người dân tộc sống tản mác trong các làng xa, cảm thấy lẻ loi. Trong những thời kỳ khó khăn, họ như bị loại trừ. Sau này đi lại dễ dàng hơn, nên anh em rủ nhau đi thăm những anh chị em xa xôi. Nhất là khi những anh chị em đó đau yếu hay có công việc. Cả các cha các thày cũng quan tâm thăm viếng.
Người công giáo rất đoàn kết. Bình thường không có nhà thờ, chẳng có nghi lễ, tưởng rằng những người công giáo cô đơn. Nhưng đến việc mới thấy người có đạo đông đảo và đầy tình đoàn kết. Nghe tin một người qua đời, lập tức những giáo xứ chung quanh kéo đến. Dù nhà đám ở tận vùng sâu vùng xa, anh chị em giáo hữu vẫn không quên, không quản ngại đến chia vui sẻ buồn.
Đám tang người dân tộc tuy quan trọng, nhưng việc tổ chức lại tùy rhuộc vào hoàn cảnh kinh tế. Người có tiền mới có nhiều chỗ thân quen và mới có đủ khả năng làm đám tang to, qui tụ đông người. Đám tang người nghèo thật buồn, ít người đến thăm viếng, vì nhà không đủ khả năng dọn cơm đón khách. Trái lại, bên đạo đám tang nào cũng như nhau, dù sang dù hèn, dù mời hay không, bà con đồng đạo vẫn kéo đến chia buồn, đọc kinh cầu nguyện và giúp đáp.
Sự thăm viếng gợi lên thắc mắc cho những anh chị em lương dân trong bản: "Tại sao những người nghèo túng, không có địa vị, bị khinh miệt nay được nhiều người quan tâm đến thế?" Để ý tìm hiểu, họ biết đó là sự quan tâm của những người anh em con cái Chúa. Thích thú tình đoàn kết, nên mỗi lần có người bên đạo thăm viếng trong làng, dân làng kéo đến chia sẻ. Cuộc thăm viếng riêng tư trở thành buổi gặp gỡ chung. Thăm một người thì gặp cả làng.
Sự đoàn kết dần dà dẫn đến cộng tác. Năm ngoái, một bà cụ đơn neo trong làng có căn nhà bị dột cần phải làm lại mái nhà. Anh chị em công giáo đứng ra tổ chức. Anh em trong bản làng giúp đúc ngói xi măng. Khi đã đủ số ngói cần thiết, anh em bên đạo kéo vào cùng với anh em bản làng lợp lại mái nhà cho bà cụ. Buổi công tác chung kết thúc bằng một bữa rượu thanh đạm nhưng đậm đà tình nghĩa.
Con hiểu rằng tình đoàn kết là một hạt giống mau bén rễ và chóng phát triển. Đoàn kết nối đoàn kết. Nhờ tình đoàn kết, những Kitô hữu sống lẻ loi được an ủi và được trân trọng. Nhờ tình nghĩa đoàn kết, những anh em công giáo được đón tiếp trong các bản làng. Nhờ tình đoàn kết, anh em bản làng quy tụ lại với anh em công giáo. Con coi đó là những tiền đề thuận lợi cho Phúc Âm.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế đau lòng của thời đại bị ảnh hưởng tai hại của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy vật, Đức Phaolô VI cũng đã nhận thấy: "mãnh lực của Phúc âm hóa sẽ giảm thiểu nhiều nếu những người tuyên xưng Phúc âm lại chia rẽ nhau bằng cách này hay cách khác.
Đây phải chăng là một trong những căn bệnh nguy kịch trong công tác Phúc Âm hóa ngày
nay?" Ngài cũng viết thêm: "Chia rẽ giữa các Kitô hữu là một thực tế nghiêm trọng, cản trở công trình của Chúa Kitô. Công đồng Vaticano II nói rõ ràng và trang trọng rằng: sự chia rẽ này "làm tổn thương đến chính nghĩa rất thiêng liêng của việc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, và ngăn trở bao nhiêu người tìm về đức tin" (PAH/TGNN 77).
Sự chia rẽ này phát sinh từ sự kiêu ngạo, tự ái, bất mãn của con người. Ma quỷ đã không ngừng lợi dụng những yếu điểm này để đánh phá, khởi đầu ngay từ ông bà nguyên tổ. Như ở trên, sách Công vụ Tông Đồ đã thuật lại sự hiệp nhất cao đẹp của cộng đoàn sơ khai, thế mà chẳng bao lâu sau này, khi các cộng đoàn đang lớn mạnh thì họ lại bắt đầu bất hòa phân rẽ. Trước thảm cảnh đau lòng này, thánh Phaolô đã phải đau xót thốt lên: "Ta nghe mỗi người trong anh em nói: tôi thuộc về Phaolô, tôi thuộc về Apôlô, còn tôi thuộc về Kêpha, và tôi thuộc về Đức Kitô. Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm sẻ bẩy rồi sao?" (1 Cor 1,12-13). Lời than trách này xem ra lại càng xót xa hơn nữa trước thời đại ngày nay!
Nhìn vào lich sử Giáo hội đã không thiếu những lần chia rẽ, ly khai đau lòng. Nhìn vào những sinh hoạt giáo hội địa phương nơi các cộng đoàn, cũng không thiểu những thảm cảnh "tôi thuộc về nhóm này, tôi thuộc về đoàn thể kia". Hay tệ hại hơn nữa, vì bất mãn, vì tự ái cá nhân, tôi đã quay lưng lại với cộng đoàn, để rồi vì "lỡ phóng lao thì phải theo lao", tôi lại kéo bè kéo đảng những người đồng cảnh ngộ mà quấy phá? Thật mỉa mai cho chính lương tâm mình khi nhận là môn đệ của Thầy, là sứ giả Tin Mừng, mà lại là hiện thân của sự chia rẽ, xóa đi vẻ đẹp tuyệt vời của Ba Ngôi Thiên Chúa, của mầu nhiệm hiệp nhất trong thân thể Chúa Kitô. Chia rẽ chắc chắn không thể biện minh cho việc "xây dựng"! Đã xây dựng thì phải xây dựng trên nền móng vững chắc có cát, có đá, có xi măng, có sắt hiệp nhất tạo thành bê tông chắc chắn chứ không thể chỉ xây dựng trên bãi cát chơ vơ.
Luôn nhìn nhận thân phận yếu đuối của con người, và nhận thấy tầm quan trọng của việc hiệp nhất, các vị Cha Chung hằng quan tâm đến vấn đề này để kêu gọi cầu nguyện, xét mình, và đổi mới. Vì lý do này, khi tuyên bố Năm Thánh, Đức Phaolô VI đã nhắc nhở mỗi tín hữu trong thế giới Công giáo rằng: "Trước khi mọi người được quy tụ bên nhau và đón nhận ân sủng Thiên Chúa, Cha chúng ta, sự hiệp thông phải được tái lập giữa những ai, trong đức tin, đã hiểu biết và đón nhận Chúa Giêsu Kitô là Chúa thứ tha đã dựng nên loài người được tự do và hiệp nhất họ trong Thần trí của tình yêu và sự thật" (PAH/TGNN 77).
Trong sứ điệp Phục Sinh năm nay, Đức Giáo Hoàng J.P. II đã tha thiết cầu xin Chúa Phục Sinh: "giúp chúng con hoạt động không ngưng nghỉ cho sự xuất hiện của một thế giới công lý hơn và đoàn kết hơn mà Thầy đã mở ra cùng với sự sống lại của Thầy". Ngài cũng cầu nguyện cho nhân loại nhận ra mình là "tứ hải giai huynh đệ", tất cả đều là anh chị em một nhà: "Xin cho tất cả những ai xem mình là con cái Abraham, biết tái khám phá ra tình huynh đệ mà họ cùng chia sẻ và thúc dục trong họ những ý định hợp tác và hòa bình"
Thiên Chúa đã chuẩn bị cho mỗi người chúng ta những môi trường để đem Tin Mừng đến: gia đình, nơi làm việc, phong trào đoàn thể, cộng đoàn và rộng lớn hơn là cả thế giới. Qua phong trào, Thầy đã "chọn" chúng ta cùng với những người khác có sức ảnh hưởng trong cùng môi trường để thi hành sứ mạng. Ước mong với châm ngôn: "một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh chị em", chúng ta sẽ đáp lại sự tin tưởng của Thầy.
Thầy ơi, số người đang đói khát Tin Mừng còn nhiều lắm. Chúng con cũng cầu xin: " Xin cho tất cả chúng con nên một trong Thầy, để mọi người tin rằng Thầy đã sai chúng con".
Bản Tin tháng 5
|