DỄ NHƯ ĐI ĂN PHỞ 

Ng. Th. Tu

Làm công việc viết lách để viết ra những điều mình suy nghĩ trên giấy trắng mực đen đã là một chuyện khó cho tôi rồi, cộng thêm caí phần cảm nghiệm thiêng liêng trong cuộc sống của người cursillista trong ngày thứ tư kể ra nhiều lúc cũng khó đấy chứ chẳng chơi. Tôi cũng biết rõ điều ấy, vì mỗi lần chị trưởng Ban Truyền thông (BTT) nháy nhó kêu gọi viết bài cảm nghiệm cho tờ Bản Tin, thì cứ y như các anh chị trong Phong trào chỉ nhăn răng cười xòa một phát để xí xoá, có anh chị còn 'vận động trí sáng tạo' để tả oán những bận bịu công việc gia đình, công việc của sở nó đuổi chạy trối chết, và bận rộn với đủ mọi thứ công việc không tên nên chả còn thời giờ đâu mà viết với lách. Thành ra tiếng kêu mời của chị BTT "Tháng này các anh chị viết bài chia sẻ cảm nghiệm cho Phong trào mình nghe ?" như một điệp khúc trầm buồn vang lên vào mỗi giữa tháng lại dần dà đi vào ký ức mau quên của mỗi người. Tôi thì lại thuộc vào loại tình cảm còn mang nặng từ kiếp nào 'ngỡ bơ vơ' trong tâm linh, nay đã có chỗ nương tựa bên nhà Chúa nên vì cảm kích đó tôi khó lòng mà thoái thác lắm. Nhiều khi ngoài mặt thì tôi làm bộ như là "phớt tỉnh ănglê" coi chuyện viết lách như là một chút nghiệp dĩ của tay trái không có gì đáng phải quan tâm lắm. Nhưng về đến nhà là tôi "chổng mông" viết cảm nghiệm về những gì tôi đã lượm lặt trong ngày, trong tuần để có chút gì chia sẻ với các anh chị trong phong trào mỗi tháng. Thú thật nhiều khi Chúa Thánh Linh chưa soi sáng và làm việc thì tâm trí rủ nhau đi về nơi xa nên tôi viết que quén một vài hàng rồi cũng quẳng "bút lông đi dắt bút chì" vẽ vạch nhảm nhí trên tờ giấy nháp nào bùa "lỗ ban", "bát quái" rồi cứ thế mà tô đi, tô lại cho đến khi nào thành ra những tấm bùa dị dạng và chữ nghĩa trở lại mới thôi. Nhiều khi cũng đành phải 'xếp bút nghiên' vào hộp thôi, chứ tài cán gì mà viết thẳng một lèo mà xong và cũng phải trầy trật lắm mới có bài để gửi đi. Tôi phải công nhận rằng thời giờ Chúa cho ngày 24 tiếng đồng hồ đã được phân bổ chi li và Người xếp đặt rất chu đáo. Này nhé, cứ tính nhẩm mà xem con người dành ra 1/3 thời giờ (8 tiếng) để ngủ, 1/3 để làm việc và 1/3 còn lại làm các công việc linh tinh khác như ăn chơi, giải trí và nhớ... đến Chúa. Tôi cũng phải chiến đấu với chính mình dữ lắm để xử dụng cho đúng 2/3 thời giờ còn lại trong ngày để nhớ đến Chúa và viết... bài cảm nghiệm chia sẻ vì người viết thì ngày càng lưa thưa mà kẻ đọc thì... ngày một đông dần !? Đó chẳng phải là một nhu cầu thúc bách, một vấn nạn mà các VPĐH đều gặp phải hằng tháng đó sao? Những bài cảm nghiệm đóng góp ở đây về mặt hình thức có thể hiểu là làm phong phú hóa nội dung cho tờ nguyệt san Bản Tin nhưng thực chất là cho chính sự lợi ích của anh chị em chúng ta như chất dinh dưỡng của 'tô phở' bổ dưỡng trong đời sống vậy. Tôi còn nhớ những năm tháng còn đi làm ở Sydney, nhiều hôm đi làm về trễ cơn váng vất trong đầu của một ngày làm việc mệt nhọc, tôi chả thiết tha gì đến cơm nước. Thế mà nghe nhắc đến phở là tôi chả ngại ngùng lái xe đi Bankstown ngay. Ăn xong tô phở là mồ hôi vã ra như tắm, tôi cảm thấy cơn váng đầu dịu đi nhiều, tinh thần phấn chấn và thư thái hơn. Nói đến nghệ thuật ăn phở và phân tích phở thì tôi cũng thuộc loại có đẳng cấp chứ chẳng phải tay mơ. Nhưng lạ thay có thứ phở tôi đã từng ăn qua và xin chịu thua không thể nào phân tích nổi. Tôi muốn nói đến tô phở của ngày Đức Ái đầy hương vị thương yêu trong Khóa 3 ngày. Đã hai lần tôi ăn phở Đức Ai, mỗi lần là một tâm tình khác nhau, một lần tôi là khóa sinh, lần kia là trợ tá. Cả hai lần đều mang hai cảm xúc thật khác lạ không thể nào tả ra được vì những cảm nhận thật choáng ngợp đến trong tâm hồn tôi vào những buổi sáng của ngày thứ hai trong khóa.

Có một điều thú vị là hình như các anh chị cursillista nào cũng có lối đọc tờ Bản Tin giống nhau. Sau khi vội vã đọc xong Lá thư Linh hướng là lật nhanh cho đến trang nhà của mình để ngấu nghiến đọc các cảm nghiệm chia sẻ của các bài viết được đăng tải trên trang nhà của mình trước khi mở sang trang của VPĐH các nơi khác. Cũng giống như chuyện tôi đi ăn phở vậy, mỗi lần ghé Sydney là tôi đều đi Bankstown để đến quán phở. Chẳng phải là tôi mê ăn uống nhưng có lẽ vì thói quen, có lẽ vì cung cách phục vụ của quán, có lẽ vì 'hương gây mùi nhớ' và để có chút gì để nhớ để thương khi xa Sydney nên tôi luôn 'khai bút' chuyến xuất hành về Sydney của tôi và gia đình bằng khao một chầu phở trước khi đi shop mua bán và làm các chuyện khác. Các cảm nghiệm được chia sẻ trên tờ Bản Tin đều là những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống ngày thứ tư của mỗi người cursillista, điểm đáng quý là những cảm nghiệm sống này được viết hay tường thuật lại qua cái nhìn của người làm chứng nhân cho chính Chúa Kitô chứ không phải do các văn sĩ. Bút pháp của mỗi anh chị có khác nhau, kẻ viết ngắn, người thì thích viết tràng giang đại hải (như tôi chẳng hạn !) nhưng tựu trung lại là có thêm chất 'tươi sống' cho các anh chị trong Phong trào đọc để thấy vui, thấy gần gũi và sống với tâm tình của người chia xẻ cảm nghiệm tâm linh hơn và không có lằn ranh giới giữa người viết và người đọc. Không biết các anh chị khác thì sao chứ riêng tôi thuộc miêu duệ Thánh Thôma, nên thường là thấy mới tin. Cái gì càng gần gũi với tôi, càng có nhiều điểm tương đồng trong lối suy nghĩ, và hoàn cảnh xảy ra càng giống thì tôi cảm thấy dễ thông cảm và dễ cảm nhận hơn. Thí dụ như tôi nói chuyện về cung cách đi ăn phở mà cho tương đen, giá sống (tệ hơn cả là ớt satế !) vào tô phở với một nhân sự sinh trưởng và lớn lên tại miền Bắc thì có khác nào tôi bôi gio trét trấu vào nghệ thuật 'tôi đi ăn phở' của Nguyễn Tuân hay Vũ Bằng. Nhưng nếu tôi đem chuyện đi ăn phở ra đây mà bàn và nếu không có tương, ớt satế và giá sống thì làm như cái việc ăn phở nó sai trật dữ lắm và cả là một sự thiếu sót trong cung cách ăn phở của người sành điệu ở đây. 

Chia sẻ cảm nghiệm trong cuộc sống cũng thế, ba cái phần tôi thêm thắt vào trong bài viết như 'hành trần, gía trụng' rau thơm, chanh ớt cho tô phở thêm phần hấp dẫn, chứ cốt lõi của việc thưởng thức phở vẫn là nước súp phải trong và thơm, bánh phở phải mướt và đều sợi, thịt tái phải mềm và tươi. Cảm nghiệm tôi chia sẻ cùng quý anh chị cũng thế cũng hội đủ các yếu tố như đã xảy ra trong thực tế như chuyện tôi đi Sydney ăn phở vậy chứ không hoang đuờng, đã cảm nghiệm bằng tim, óc của chính tôi qua sự việc đó để luôn cảm nhận được tình yêu và về sự quan phòng và săn sóc của Ngài dành cho tôi. Những ngày còn nhỏ, mỗi lần nóng đầu, cảm mạo sơ sài là mẹ tôi hay đi mua phở cho tôi ăn. Phở được đựng trong cái 'gà mên' mua ngoài đầu phố mang về. Mùi phở thơm ngát hành hương, ngò gai quyện lẫn mùi quế trầm và cánh hồi, hấp dẫn đến độ nhiều khi tôi phải gỉa ốm để được mẹ mua phở về cho ăn. Nhiều lần mẹ tôi biết tôi bệnh tưởng tượng, giả đò nhưng bà vẫn đi mua. Những lúc tôi đau ốm thật thì mẹ tôi lúc nào cũng cận kề bên giường để thăm đầu tôi xem còn nóng không, để đút cho tôi từng muỗng phở thơm mùi hồ tiêu mẹ đã rắc thêm vào để tôi mau giải cảm. Mẹ tôi qua đời đã lâu. Tôi cũng đã lớn khôn và biết tự lo liệu lấy thân. Tôi chẳng còn dịp nào làm nũng với mẹ tôi nữa, để vòi mẹ mua phở về ăn cho 'mau hết bệnh' tưởng tượng như ngày còn bé. Đối với tuổi thơ của tôi, phở là món ăn 'sơn hào hải vị' ngon nhất và quý nhất trên đời và bây giờ đối với tôi phở tuy không là một món ăn đắt tiền hay kỳ trân trên đời nhưng là món ăn giản dị bình dân và ngon miệng nhất. 

Trong đời sống tâm linh, linh hồn tôi chưa yên tịnh nên tinh thần nhiều lúc cũng váng vất chao đảo lắm, cửa miệng tâm linh đắng ngắt, tim tôi phập phồng mỏi mệt. Tôi đảo mắt nhìn quanh tìm kiếm 'tô phở thiêng liêng' của tôi để may ra sau khi húp vài thìa nước súp cay cay mùi gừng và hồ tiêu tâm thần tôi sẽ sảng khoái thêm ra và phục hồi lại. Tôi thèm khát lắm rồi, đó là những lúc linh hồn tôi lên cơn sốt niềm tin lung lay đến cùng cực. Tôi thèm một viên thuốc cảm, một tô phở bốc khói nghi ngút và thơm nồng mùi hồ tiêu để trị căn bệnh tưởng tượng về tâm linh của chính tôi. Tôi bỗng trở nên yếu đuối và bé nhỏ. Tôi thèm được sự săn sóc thương yêu cho linh hồn đang hâm hấp nóng đầu của tôi. Tôi muốn xa rời thực tại làm tôi ngột ngạt khó thở. Tôi muốn tìm về căn chòi lợp tranh hoang sơ tôi đã bỏ công sức ra dựng bên ven rừng thuở còn đi khai phá rừng làm nương rẫy. Tôi muốn nằm nghe những tiếng mưa rả rích trên mái tranh tôi đã lợp. Tôi muốn ngã lưng trên cái giường ngủ 'dã chiến' làm bằng những thanh tre rừng cong quẹo để đêm nằm lưng cộm lên cái mắt tre gọt vội còn nhô lên. Linh hồn tôi nằm đó trong âm thầm và nhung nhớ ngút ngàn và tứ chi rã rời. Tôi chợt nghe tiếng phên cửa lay động và có tiếng chân ai bước nhẹ lại phía tôi đang nằm. Tôi cố mở mắt để nhận diện dung nhan của người đang đứng gần tôi mà tôi không tài nào mở mắt lên được, hai mí mắt tôi nặng nề khép kín. Tôi bỗng cảm thấy bàn tay ai mềm mại đang đặt lên trán và ve vuốt chân tóc cho tôi. Tôi chợt đánh hơi thấy mùi thơm ngát của tô phở quen thuộc đâu đây. Tôi chống tay định bò dậy, nhưng bàn tay ấm áp của người đối diện khẽ ấn tôi nằm xuống và nhẹ nhàng bảo tôi: 

- "Con cứ nằm nghỉ cho khỏe".

Linh hồn tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Tôi chợt thấy âm ấm ở đầu môi, thì ra đó là muỗng nước súp phở đang đặt nhẹ lên môi tôi. Tiếng nói trầm ấm lại cất lên: 

- " Thầy đây, con hãy ăn cho lại sức, con nhé !".

Linh hồn tôi mấp máy đôi môi, húp từng muỗng nước phở cay vị gừng và hồ tiêu vào tận đáy lòng và cảm thấy sức nóng tỏa ra từ trong tâm. Linh hồn tôi giao động trong nỗi sung sướng vô biên và tôi đã để những giọt lệ hạnh phúc ấy lăn dài xuống má không kiểm soát. Tôi thổn thức hỏi trong đứt quãng : 

- "Thầy, Thầy thương con... đến thế... sao... Thầy ?"

Tôi chợt tỉnh cơn mộng vật vờ. Nhìn quanh nhà chả thấy ai, tôi đưa tay lên chùi mắt vì thấy hơi ướt nơi mi mắt. Những giọt lệ lăn xuống vào khóe môi tôi mằn mặn mà tôi cứ ngỡ là những muỗng súp phở Thầy đã nuôi tôi trong cơn bệnh. Không hiểu sao trong nước mắt tôi sao lại có vị cay cay của gừng, vị nồng nàn của hồ tiêu còn đọng lại trên lưỡi và mùi hắc hương của quế trầm, nhũ hương và mộc dược vẫn còn vương lại trong khứu giác.

Đầu mùa Thu, cùng em đi Lễ