CHÍNH LÚC HIẾN THÂN LÀ KHI ĐƯỢC NHẬN LÃNH

Kính chào quý cha, quý anh chị. 

"Loan báo Tin Mừng bằng hiến thân", một chủ đề nghe qua thấy có vẻ "lạnh lùng sương gió" quá làm mọi người đều ngại ngùng chia sẻ. Cá nhân tôi cũng vậy. Ngại lắm, vì luôn mặc cảm yếu kém trong vấn đề truyền giáo, cũng như cảm thấy không xứng trước hai từ "hiến thân". Nhưng chợt nhớ đến cuộc đời chị thánh Têrêsa, một trong những vị thánh quan thày của mình, là người sống âm thầm trong dòng kín, tuy chỉ hết lòng với những công việc nhỏ bé, mà lại rất thành công trong sứ mạng truyền giáo. Tôi mạnh dạn vâng lời theo sự mời gọi của khối Hậu và nhất là "Tình yêu Đức Kitô thôi thúc tôi" (2 Cor. 5,14), như một món quà dâng lên thánh Phaolô bổn mạng.

Thưa quý anh chị,

Mỗi người đều được Chúa trao cho một sứ mạng trong môi trường của mình để loan báo Tin Mừng. Nhìn vào cuộc đời các thánh, các ngài đã sống theo gương tình yêu cao vời của Thầy Chí Thánh: hiến thân cho người mình yêu như lời Thầy đã xác định: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng cho người mình yêu" (Jn. 15,13). Ngoài các các vị tử đạo, còn có rất nhiều các vị ẩn tu, các vị hiển tu, các vị trong đời sống gia đình v.v... Chính vì thế sự hiến thân ở đây theo tôi nghĩ rất rộng rãi, không có nghĩa là phải chết đi theo nghĩa đen, mà là cái chết thiêng liêng, chính là chết đi ý riêng mình và sẵn sàng chấp nhận khó khăn để ý Chúa được thể hiện. Đây chính là điều kiện "từ bỏ mình" trên đường vác thập giá theo chân Thầy. Trong ý niệm này, tôi xin mạo muội chia sẻ một vài cố gắng hiến thân trong đời mình về ba lãnh vực: tìm hiểu ơn gọi, đời sống gia đình và công cuộc phục vụ để chúng ta cùng nâng đỡ nhau.

Trước hết tôi chia sẻ về ơn gọi, vì ai cũng cần phải tìm hiểu ơn gọi của mình để thực thi sứ mạng. Và chia sẻ đầu tiên của tôi xem ra có vẻ ngược đời.
Thực vậy, bình thường khi nói đến hiến thân, người ta thường nói đến ơn gọi đi tu dâng mình cho Chúa. Nhưng tôi lại phải "quên mình" khi quyết định lựa chọn rời "nhà Đức Chúa Trời" mà trở về với "thế gian"!
Năm gần 12 tuổi, với sự khích lệ của mọi người và nhất là của gia đình, tôi đã dự thi và trúng tuyển vào chủng viện. Thuở ấy lý tưởng "dâng mình cho Chúa" còn rất mơ hồ trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ như tôi. Nhìn cuộc sống hai anh đang đi tu, ngoài việc cảm nhận đi tu là một việc cao cả, thì tôi cũng nhìn thấy một thực tế: đi tu lúc đó là một ưu đãi cho tôi. Được mọi người yêu quý chiều chuộng hơn, có cuộc sống vật chất thoải mái hơn; và lại được quý trọng hơn, từ hàng ngũ "các cậu" bước sang hàng ngũ "các chú" với nhiều công việc của giáo xứ trong những dịp nghỉ. Hãnh diện lắm. Tuy không nhắm mục đích đi tu để được "ăn chuối tráng miệng và đi giầy tây", nhưng với đứa trẻ quê mùa nghèo nàn như tôi mà được như vậy thì tuyệt vời, mãn nguyện quá rồi.

Những năm đầu qua đi thật êm đềm và mọi sự đều thuận lợi rất đáng khích lệ. Với sự học hỏi và bàn thảo với cha linh hướng mỗi tháng, tôi dần ý thức hơn về ơn gọi làm linh mục triều của địa phận. Mỗi năm trong các dịp cấm phòng tháng và cấm phòng năm, tôi có dịp nhìn kỹ lại ơn gọi của mình hơn. Tôi tìm hiểu và cầu xin cho nhận ra được tiếng mời gọi thôi thúc mạnh mẽ thẳm sâu trong tâm hồn, được biểu lộ qua con người cụ thể của tôi. Và rồi sau ba ngày cấm phòng năm lớp 11, tôi chính thức trình bày với cha linh hướng về nhận xét tôi không thích hợp để bước tới. Cha khuyên tôi cầu nguyện và suy nghĩ thêm nhiều hơn. Vâng lời ngài, tôi tiếp tục để có thêm thời giờ cầu nguyện, suy nghĩ và bàn hỏi.

Một năm sau, cũng trong ba ngày tĩnh tâm năm, tôi quyết định rút lui. Nhưng khi đã có quyết định và nhìn thấy cuộc đời đang chờ đón trước mắt, tôi cảm thấy bị giằng co, lo âu và sợ sệt. Nguy thật, ra đi lúc này là chuẩn bị đón nhận trăm ngàn sự khó sẽ đến với mình. 

Ra đi thì trước hết việc học sẽ giang dở, vì quê tôi không có trường thích hợp cho ban tôi đang học, mà đi tỉnh hay lên thành phố thì khả năng tài chánh không cho phép. Chỉ còn một nước là tự học và đi thi tự do đầy bấp bênh. Đã thế, tình hình đất nước thời đó chiến tranh đang leo thang dữ dội, cuộc đời binh nghiệp chắn chắn rồi sẽ là tương lai cho tôi mà thôi.
Ra đi là chuẩn bị đón nhận những dị nghị chẳng tốt đẹp gì của đời sống miền quê: "Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba tu xuất!" Nhất là tôi ngại phải đối diện với mẹ tôi, vì tôi là nguồn hy vọng của mẹ, các anh tôi đã về với gia đình trong những năm trước. Tôi biết rất rõ là mẹ tôi sẽ buồn nhiều lắm...

Đã có lúc tôi muốn quên đi quyết định của mình. Cuộc sống hiện tại đang êm đềm dễ dàng quá, sao lại phải chuốc lấy những khó khăn? Hay ít ra tại sao không lợi dụng nửa năm còn lại để thi cử xong rồi hãy tính? Tôi cảm thấy mình hẹp hòi và yếu đuối quá. Giờ này tôi mới cảm nhận sâu xa hơn về bài huấn đức đã nghe với câu kết luận: "Can đảm dứt khoát rời chủng viện theo ý Chúa là một việc anh hùng". Tôi phải can đảm. Không phải can đảm để làm anh hùng, nhưng để không với thẹn lương tâm. Và tôi đã dứt khoát.

Đến nay ba mươi mấy năm đã qua đi, tôi vẫn vui với quyết định của mình dù phải đón nhận tất cả những khó khăn đã được dự kiến. Nhiều lúc nhớ lại tôi tự hỏi: "Không biết đời mình sẽ ra sao nếu cứ nhắm mắt bước tới?". Gì thì không biết, chứ điều chắc chắn tôi biết được là không có cơ hội đứng nơi đây để chia sẻ với quý anh chị đêm nay!

Thưa quý anh chị,

Khi về với gia đình, một người bác đã nói đùa: "Chắc anh muốn lấy vợ thì mới về chứ gì?". Tôi cũng cười đùa đáp lại: "Cháu cũng giống bác thôi. Cháu của bác mà". Tuy nói vậy, nhưng gần mười năm sau tôi mới bước vào đời sống gia đình, một môi trường cũng đầy cam go vượt qua những hiểu biết chủ quan của mình. 

Hồi nhỏ sống trong gia đình thì chỉ có năm anh em trai. Lớn hơn, sống trong chủng viện cũng toàn là con trai. Rồi rời chủng viện lại sống chung với bạn bè... Tôi khù khờ ngô nghê quá, chẳng hiểu biết gì tâm tình người phụ nữ thế mà cứ tưởng rằng mình biết nhiều lắm. Vì thế khi sống với vợ, tôi đã làm nhiều điều vô tâm vô ý. Tôi phải cố gắng rất nhiều để bỏ đi những ý nghĩ chủ quan và ý muốn của mình, cũng như để học hỏi và tìm hiểu thêm.

Vợ tôi tuy rất thùy mị, hiền lành và tốt bụng, nhưng dẫu sao cũng là một người khác phái với một cá tính riêng, một lối sống riêng... Chúng tôi phải luôn phấn đấu để cùng trung thành với lời giao ước yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời; cũng như để đưa tới tình trạng "nên một" của hôn nhân, làm sao để "thuận vợ thuận chồng" hầu tát cho cạn cái biển đông gia đình, sao cho bình an và hạnh phúc.

Vâng, thưa quý anh chị,

Cái "biển đông gia đình" thật bao la và gay go, cần sự cảm thông và hợp tác giữa hai vợ chồng. Nó khác nhiều với lý tưởng mơ mộng đơn sơ thuở xưa.
Sự xung đột giữa hai thế hệ cha mẹ và con cái vẫn trường kỳ tái diễn, nhất là nơi các gia đình tị nạn Việt Nam chúng ta hôm nay. Cha mẹ thì thừa hưởng nền giáo dục gia đình chặt chẽ của Á đông. Con cái thì hấp thụ nền văn hóa cởi mở, tôn trọng tự do cá nhân. Hai nền văn hóa đôi khi xem ra đối nghịch. Ai cũng hiểu rằng cần có sự hòa hợp hài hòa là tốt nhất, nhưng đi đến thực hiện thì khó lắm.
Tôi được lớn lên trong điều kiện giáo dục kỷ luật kể là nghiêm khắc, từ gia đình đến môi trường sống. Sự uy quyền của bề trên và sự vâng lời của bề dưới tuy không phải là tuyệt đối, nhưng luôn là yếu tố quan trọng. Tôi đã thầm vẽ một hướng đi cho gia đình tương lai...

Con cái càng lớn lên, tôi như càng có khuynh hướng trở thành người cha bất mãn kinh niên. Tôi có cảm giác con cái không chấp nhận tình yêu của mình! Từ đó tôi có cơ hội nhìn lại con người mình cho sát với thực tế. Phải yêu con thật sự chứ không phải yêu con như ý mình. Tôi đã yêu con trong ích kỷ, muốn được thỏa mãn những nguyện vọng thầm kín riêng tư. Tôi phải cởi bỏ con người cũ, chân tình hiến thân thật sự cho con cái.

Ngày xưa đã biết bao lần nghe và suy niệm dụ ngôn người con hoang đàng. Những khi đó tôi chỉ nhìn thấy hình ảnh đậm nét nơi người con đã hối lỗi và muốn trở về với gia đình. Sau này khi con cái lớn lên, tôi mới sống được thật sự với toàn bộ nội dung của dụ ngôn, và thích tên gọi là dụ ngôn người cha nhân hậu. Nhờ dụ ngôn, ngoài việc tôi cảm nghiệm sâu xa hơn về tình thương chân thật, sự tha thứ của Thiên Chúa; tôi còn học được phương thức làm cha trong gia đình một cách cụ thể, để tránh đi những bất mãn không cần thiết trong cuộc sống. Cám ơn Chúa, đánh đổi với sự cố gắng, tình hình được tốt đẹp hơn nhiều.

Thưa quý anh chị, 

Theo đúng tinh thần của Rollo Hành Đạo, sau khi đem Tin Mừng cho gia đình, ta phải loan truyền ra ngoài xã hội.
Tôi tham dự khóa 1 của phong trào Cursillo ngành Việt Nam Úc châu năm 1992, lúc đó tôi đang sinh hoạt trong ban Mục Vụ của giáo đoàn. Tuy có mất thời giờ họp hành và đi đây đó nhưng không bận tâm nhiều, vì đây là một giáo đoàn nhỏ ít sinh hoạt mà lại có đông anh em chung quanh.

Giữa năm 1993, tôi được bầu vào ban Thường Vụ của Hội Đồng Mục Vụ cho nhiệm kỳ mới. Thoạt tiên tôi muốn cự tuyệt ngay vì chưa bao giờ nghĩ đến công việc này. Tôi cũng cảm thấy công việc này nặng nề quá như người bạn đã nói trong ánh mắt lo âu: "Ông liều quá, dám nhận à?". Cuối cùng tôi liều thật khi đối diện với đôi mắt yêu thương của Thầy Chí Thánh, nhớ lại bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và sức nóng của khóa Ba ngày.

Về nhà, tôi tâm tình với vợ tôi về sự chết mà chúng tôi thường hay đề cập đến. Hôm nay tôi nói với nàng về một cái chết khác: "Em ơi, coi như anh chết ba năm nhé. Đây là công việc nặng nề ngoài sức, anh cần cố gắng và hy sinh nhiều, từ hy sinh cá nhân và ảnh hưởng cả đến đời sống gia đình". Tôi nói vậy không phải vì sợ nàng phản đối. Tôi biết vợ tôi luôn ủng hộ và yểm trợ tôi trong các việc tông đồ. Tôi nói để nàng ý thức nhiều hơn và chia sẻ với tôi một cách trọn vẹn trong công tác.

Quả đúng vậy, công việc đòi hỏi tôi "chết" thường xuyên khi phải đối đầu với khó khăn, những mệt nhọc, những hiểu lầm và những trở ngại đủ loại; nhất là tâm trạng cảm thấy cô đơn hay tệ hại hơn là khi có cảm giác bị phản bội. 

Ba năm qua đi, thì lại bốn năm "chết" tiếp trong nhiệm kỳ sau kéo dài đặc biệt. Thời gian dài đã trở nên cám dỗ làm tôi thấy mệt mỏi và mang tâm trạng "thiệt thòi". Người thì đông như rừng mà sao tôi lại mãi "ăn cơm nhà, vác ngà voi"! Tôi phải gồng mình chiến đấu dẹp đi những tư tưởng tiêu cực để vui với đời phục vụ. Cố gắng lại càng cố gắng thêm.

Bẩy năm "chết" làm như đã quen, lấy đà để lại chết tiếp trong công tác của phong trào! Mười mấy năm liên tục qua đi cho tôi thấy cảm nghiệm làm việc tông đồ không thể không có sự hiến thân: vì có khi bỏ cả công mình lẫn tiền vợ, mà nhiều lúc phải mua lấy sự phũ phàng. Nếu không có ơn Chúa giúp kiên trì, chắc chắn tôi đã thua cuộc. Qua đó, tôi cũng nhận thấy mình phải hiến thân hơn trong mọi cách để hỗ trợ và nuôi dưỡng sự hiến thân của những anh chị em mình đang vất vả phục vụ cho mình. Ít nhất đây cũng là sự công bằng tối thiểu.

Thưa quý anh chị,

Chia sẻ cuối cùng của tôi thì lạc quan hơn. Vì: "Chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời". Đó là cảm nghiệm đúng như kinh Hòa Bình mà chúng ta rất quen thuộc. Cho đi chính là lúc tích lũy tài sản thiêng liêng cho chính mình, cộng với ơn Chúa thương ban thêm. Khi cố gắng hiến thân là lúc tôi được tái nhận Tin Mừng mà do lơ là, lười biếng tôi đã làm hư hao. Chính lúc cố quên mình là khi tôi tìm được cái tôi đích thực trong hình ảnh của Thầy qua ba mầu nhiệm: Nhập thể, Thánh giá và Phục sinh. Và nhờ đó khi chết đi thật, sẽ là lúc được vui sống muôn đời.

Nhờ những cố gắng là những hiến thân nơi các biến cố, tôi được trưởng thành hơn trong đức tin cũng như trong đời sống hàng ngày: vững tin nơi tình yêu Thiên Chúa và bình an được với những "thập giá" Chúa trao. Tôi có được nhiều sự cảm thông. Tôi có được nhiều bạn chân thành. Đời đáng sống.

Tôi hiểu từ đây tôi sẽ có môi trường mới để thực thi sứ mạng. Nhưng dù trong môi trường nào đi chăng nữa, tôi vẫn phải sống trong tình yêu của Thầy. Tình yêu này sẽ thôi thúc và cũng là điểm tới cho mọi hoạt động của mình. Từ đó, cuộc đời ô trọc sẽ trở nên cao quý và sẽ trở thành một tình yêu, một thứ "tình cho không biếu không", một mối tình hiến dâng...

Xin kính chào và cám ơn quý anh chị đã lắng nghe.

Nguyễn Văn Bội