LOAN BÁO TIN MỪNG BẰNG RA KHƠI
"Hãy ra khơi xa hơn" (Lc. 5,4)
... Hãy ra khơi
Là những người Việt Nam tỵ nạn, đa số chúng ta đều là những thuyền nhân vượt trùng dương đi tìm tự do, nên rất kinh nghiệm về việc ra khơi. Ra khơi đòi hỏi một quyết định dứt khoát. Ra khơi đòi hỏi sự ra đi và từ bỏ. Ra khơi đòi hỏi sự liều lĩnh, sẵn sàng chấp nhận những khó khăn, ngay cả đến cái chết. Sự liều lĩnh này không phải đem ra để đánh đổi lấy sự vô lý, nhưng để đánh đổi lấy một sự tự do cao quý, nghĩa là có mục tiêu nhắm tới.
Mọi người chúng ta cùng với các môn đệ thuở xưa đều nhận được bài sai: "Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc. 16,15), vì đã được thu nhận: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá" (Mt 4,19; Mc 1,17; Lc 5,10).
Muốn bắt được tôm được cá, ngư phủ không được neo thuyền, ở nhà thảnh thơi nhàn nhã, nhưng phải xuống tầu ra khơi, chấp nhận gian khổ, ướt át, lạnh lẽo.
Cũng vậy, để cho Tin Mừng của Chúa được loan truyền khắp nơi, chúng ta không được ngồi yên ngơi nghỉ, mà phải lên đường, phải ra đi và loan truyền bằng cả con người của mình. Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thanh Hoan đã nhận định: "Ở bóng giáo đường ta nói chuyện truyền giáo quả thực chưa đủ. Hãy ra đi mà loan báo Tin Mừng bằng con tim, bằng lời nói, và bằng bàn tay".
Trước khi ra lệnh truyền ra khơi, chính Thầy đã làm gương khi đi lang bạt khắp đó đây, loan báo Tin Mừng cho mọi người đang sống giữa nơi đô thị hay chốn thôn quê nghèo khổ, và cả đến trong các hang cùng ngõ hẻm. Thầy luôn lên đường và không ngừng ra đi. Cả cuộc đời của Thầy là một cuộc ra đi dài: sinh ra khi ra đi và chết khi hành trình lên núi Sọ được kết thúc.
Nối gót theo Thầy, trải qua 2000 năm nay, các môn đệ Ngài vẫn không ngừng ra khơi. Chúng ta là những con cá hồng phúc nhờ những mẻ lưới gian nan cực khổ liên tục này... Tạ ơn các vị thừa sai và các thánh tử đạo Việt Nam oai hùng.
... Xa hơn
Cùng với lệnh truyền của Thầy Chí Thánh, Đức Thánh Cha đã tha thiết mời gọi: "Duc in altum".
Xa hơn ra ngoài khơi là tìm đến những chỗ sâu. Chỗ nước sâu là chỗ khó khăn, nguy hiểm. Nhìn thấy trước các khó khăn của mỗi thời đại, nên Thầy cũng đã báo trước: "Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói" (Lc 10,3)
Ra tận chỗ xa là phải mệt nhọc, vất vả hơn, và nhất là phải đương đầu với sóng ta gió lớn, có khi nguy hiểm cả đến tính mạng.
Tin Mừng hôm nay phải đối đầu với nhiều khó khăn vì nền văn minh vật chất, ưa hưởng thụ đưa con người tới chỗ duy vật, coi trọng vật chất mà không còn tha thiết đến những giá trị thiêng liêng. Khoa học tiến bộ vượt bực tạo giúp cuộc sống dễ dàng với những tiện nghi, dễ đưa con người tới chỗ tự mãn, không cần tới một thế lực thần thiêng nào khác. Con người ngày nay đổ dồn thời giờ để thỏa mãn cho những nhu cầu vật chất. Nhu cầu phát sinh nhu cầu. Nhu cầu tăng hoài tăng mãi nên con người không còn thời giờ cho những việc tâm linh. Thế giới hôm nay quả là chỗ nước sâu của công cuộc truyền giáo.
Xa hơn ra ngoài khơi là tìm kiếm những môi trường mới. Ra khơi đánh cá hết "rạng" cá này phải tìm đến những "rạng"cá khác, cứ mỗi ngày mỗi phải xa hơn.
Môi trường mới là những con người mới. Những người khác với ta về tôn giáo, chủng tộc, ngôn ngữ. Môi trường mới cũng là những lãnh vực thực tế như văn hóa, chính trị, y tế, truyền thông, giáo dục... Phong trào vẫn hằng luôn nhắm tới những môi trường chuyên biệt này là đối tượng để Phúc Âm hóa. Kiểm điểm lại, chúng ta còn thiếu sót rất nhiều để thỏa mãn chủ trương cao đẹp này.
Xa hơn ra ngoài khơi cũng đòi hỏi những phương tiện mới cho thích hợp với phong ba bão táp của biển khơi. Với kỹ thuật hiện đại ngày nay, thuyền bè, chài lưới xưa kia giờ đã quá thô sơ không những đã được thay thế bằng tầu biển, chài lưới tân kỳ, mà còn được hỗ trợ bằng nhiều kỹ thuật mới như máy dò cá, máy gọi cá... Cũng vậy, việc loan báo Tin Mừng hôm nay cũng phải tận dụng những phương tiện kỹ thuật mới để đi vào các môi trường, sao cho hẫp dẫn được môi trường, sao cho trở thành nhu cầu của môi trường. Ngoài việc cầu nguyện, rao giảng, còn có gặp gỡ, đối thoại, phát triển đời sống, và nhất là đời sống phục vụ yêu thương. Ngoài sách vở báo chí, còn phải kể tới phát thanh, truyền hình, điện thoại, và internet rộng mở bao la...
Nhưng dẫu có vất vả khổ sở và nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn hăng hái trong niềm hy vọng với lời hứa của Thầy: "Trong thế gian, các con sẽ phải gian nan khốn khó, nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian" (Jn 16,33). Lời hứa này sẽ thành sự thật nếu chúng ta cứ mãi trung thành và tuân theo lời Thầy. Xưa kia Phêrô và các bạn mệt nhọc suốt đêm trường mà chẳng bắt được con cá nào, nhưng khi nghe lời Thầy dạy, các ông đã đánh được mẻ cá lạ lùng.
... Chia sẻ
Và một lần nữa, Bản tin lại xin cho trích đăng một chia sẻ trong những bài giảng tĩnh tâm cho các linh mục thuộc tổng giáo phận Hà Nội hồi cuối năm 2003 của Giám Mục Cursillista Ngô Quang Kiệt. Đậy là một trong nhiều chia sẻ thực tế khởi đầu cho cuộc ra khơi đầy gian khó của người chiến sĩ tiền phương.
HOÀN CẢNH LẠNG SƠN
Đường từ Hà Nội tới Lạng Sơn năm 1999 còn xấu. Nhất là đoạn đường đi qua đèo Sài Hồ, dốc dác quanh co, nhỏ hẹp, nằm chênh vênh bên vực thẳm nên rất nguy hiểm. Chẳng ngày nào không có tai nạn.
Đường đồi núi vắng vẻ. Xa xa mới có một mái nhà nhỏ bé nằm khuất sau mhững lùm cây rậm rạp trên sườn đồi.
Con đến Lạng Sơn vào một buổi chiều mưa rả rích. 2000 kms đường dài là qua một khoảng cách xa. Từ đồng bằng lên miền đồi núi đã thấy lạ lẫm. Từ chỗ đông đúc đến một nơi vắng vẻ tự nhiên thấy lạnh lẽo. Nhìn đồi núi hoang vu không một bóng người thấy cũng rờn rợn. Con cảm thấy ngại ngùng bước chân ra đi.
Khi gặp gỡ người dân lại thấy một khoảng cách còn xa hơn nữa. Xa ở lời ăn tiếng nói. Xa ở lối suy nghĩ, trình bày. Xa ở những phong tục tập quán. Con cảm thấy mình là người xa lạ.
Giáo dân Lạng Sơn gồm những cộng đoàn nhỏ bé, sống phân tán. Tâm tư lại càng phân tán hơn. Hơn 50 năm không có người trực tiếp hướng dẫn, đàn chiên vốn đã nhỏ bé lại càng tan tác. Khi con về nhận chức, chỉ còn một cha già hơn 95 tuổi và một bà sơ trên 100 tuổi. Chẳng có ai đón tiếp, chẳng có ai cho biết tình hình giáo phận. Chẳng có ai cho biết các xứ phải đi thế nào. Cứ tự động đi, cứ tự động đến. Ban hành giáo từ lâu không quen hoạt động. Giáo dân không được tổ chức. Các giáo xứ thì năm thì mười họa mới có thánh lễ nên chỉ biết ngơ ngác đứng nhìn. Con thật sự hụt hẫng như người không biết bơi mà bị rơi xuống chỗ nước sâu.
Dần dà con khám phá ra rằng giáo dân không hiểu biết giáo lý. Phúc Âm thì hoàn toàn xa lạ. Chỉ thuộc một ít kinh và một vài truyền thống ông bà để lại từ trước Công đồng Vatican II.
Với tình hình, số giáo dân và nhân sự như thế, con hiểu rằng Lạng Sơn chỉ đơn thuần là một giáo điểm, cần phải truyền giáo. Truyền giáo là sức sống của giáo phận. Không truyền giáo, giáo phận này sẽ chẳng còn ý nghĩa, chẳng còn sức sống.
Xác định như thế, con lăn xả vào công việc. Chúa bảo gì, con làm nấy.
Việc đầu tiên là ra đi. Ra đi không ngừng. Đi thăm viếng những xứ đạo xưa đã hoang tàn. Đi tìm những con chiên xa lạc. Đi hòa giải những người xích mích. Đi cử hành bí tích. Đi dạy giáo lý. Đi đám tang. Đi đám cưới. Đường là nhà, xe là phòng. Trời đất là quê hương. Núi rừng là giáo phận. Cứ thế đi không ngừng.
Việc thứ hai đó là gặp việc gì làm việc nấy. Chưa có người nên phải làm tất cả. Làm Linh mục nhiều hơn Giám mục. Làm Giáo lý viên nhiều hơn Linh Mục. Tập hát, tập nghi thức. Mở cửa. Kéo chuông. Bất cứ việc gì cần phải làm, có thể làm để đưa linh hồn người ta về với Chúa, để xây dựng cộng đoàn, để củng cố giáo xứ, để khai mở tâm trí.
Tựa như căn nhà xưa đã bị đổ nát, cỏ dại um tùm. Không biết phải bắt đầu từ đâu. Gặp gì làm nấy. Tay nhổ cỏ, tay nhặt đá. Tay chặt cành cây, tay quét rác...
Giờ đây chúng ta cùng kiểm điểm: liệu đã ta ra khơi thả lưới, hay vẫn chỉ ngồi nhà bắt cá trong hồ, trong nồi, trong đĩa...?
Bản Tin tháng 7