"Vai Trò Người Tín Hữu Công Giáo Sau Công Đồng Vaticanô II"

Sr Marie Trần thị Niên. rsm

Thân chào cha linh hướng và quý anh chị,

Đề tài "Vai Trò Người Tín Hữu Công Giáo sau Công Đồng Vaticanô II" lẽ ra thì phải dành cho một nguời trong quý anh chia sẻ mới thích hợp. Lý do là vì đề tài này nói đến vài trò và sứ vụ của người giáo dân, của mỗi quý anh chị là những người đã được sinh ra và lớn lên trong ân sủng của Thánh Công Đồng Vaticanô II. Tuy nhiên vì được khối hậu yêu cầu nên tôi cố gắng học hỏi lại các văn kiện chính của Công Đồng để có thể chia sẻ với quý anh chị trong buổi đại hội hôm nay. Đây cũng là một cơ hội tốt để chúng ta làm sống lại trong tâm hồn mình các sứ điệp mà Thánh Công Đồng gởi tới mỗi người tín hữu trong gần 40 năm qua. 

Vài điểm sơ lược về Công Đồng Vaticanô II

Thời điểm và mục đích triệu tập Công Đồng 

Công Đồng Vaticanô II được triệu tập trong thời của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII (11/10/1962) và kết thúc trong thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI (8/12/1965). Công Đồng Vaticanô II được triệu tập để hoàn thành và bổ túc cho Công Đồng Vaticanô I với mục đích chính là cải tổ Giáo Hội và chủ trương hiệp nhất các Kitô hữu. Khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tuyên bố ý định sẽ triệu tập một Công Đồng Chung ngày 25/1/1959 thì toàn thế giới đều ngạc nhiên vì ai cũng nghĩ rằng sau Công Đồng Vaticanô I thì Giáo Hội sẽ không còn cần thiết phải triệu tập một Công Đồng nào khác nữa vì Giáo Hội lúc đó đang phồn thịnh, bề ngoài không có một vấn đề nan giải hay khủng hoảng về tín lý nào cần phải giải quyết. Quyền của Giáo Hoàng đang ở mức độ tối cao vì tính bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng mới được công bố qua Công Đồng Vatican I năm 1870. 

Vài sắc thái tiêu biểu của Công Đồng Vaticanô II

· Công giáo tính

Chưa một Công Đồng nào có đầy đủ công (chung) giáo tính như Công Đồng này. Con số các nghị phụ (giám mục) được triệu tập gồm 3058 vị từ khắp năm châu trên toàn thế giới qui tụ về Roma để họp và dĩ nhiên trong đó có các nghị phụ Việtnam. Đặc biệt là ngoài sự tham dự của các nghị phụ còn có sự đóng góp rất đáng kể của 460 các nhà chuyên môn thuộc các thành phần khác của Dân Chúa. Đó là các linh mục, tu sĩ và giáo dân trong lãnh vực chuyên môn của mình, họ đã tham gia vào công việc của các ủy ban trong việc soạn thảo các lược đồ, thăm dò ý kiến các giám muc v.v...

Đặc biệt hơn hết là một số giáo dân nam nữ (55 người) và (10 nữ tu) đã được mời tham dự với tư cách là dự thính viên của Công Đồng. Họ đã có cơ hội để đóng góp ý kiến về nhiều vấn đề cho các ủy ban và đã lên tiếng tất cả 6 lần trong các buổi họp của Công Đồng.

· Tinh thần hiệp nhất

Cộng Đồng Vaticanô II đã đạt được thành quả tốt đẹp cho chủ trương chính yếu của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII là nối lại vòng dây thân ái giữa các tín hữu Kitô giáo trong tinh thần hiệp nhất dựa trên tương quan tương kính và tinh thần đối thoại. Công Đồng Vaticanô II không có chủ trương lên án hay ly khai bất cứ ai. Ngượi lại Cộng Đồng nhìn vào chính mình, chính Giáo Hội của mình để cải tổ những sai trái, làm cho Giáo Hội trở nên hoàn thiện hơn, hợp với tinh thần luôn mới mẻ của phúc âm. Lúc đó, theo Đức Thánh Cha Gioan XXIII, chúng ta mới có quyền nói với các anh em ly khai rằng: "Đây, Giáo Hội thật của Chúa Kitô, xin anh em hãy nhìn vào, hãy chiêm ngưỡng, vì đó cũng là Giáo Hội của anh em. Vậy chúng ta hãy hiệp nhất với nhau." (VKCĐ Vol I tr 44). 

Qua các văn kiện của Công Đồng đặc biệt là Sắc Lệnh về Hiệp Nhất, Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo và Tuyên Ngôn về các tôn giáo Ngoài Kitô Giáo đều nhấn mạnh đến tinh thần hiệp nhất. Quan niệm mới mẻ này cũng xuất hiện rất rõ qua Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, nhất là Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay. Ngoài ra Công Đồng Vaticanô II còn được coi là:

· Công đồng của tự do và đối thoại

· Công Đồng Mục Vụ

· Công Đồng đem nguồn sáng mới cho Giáo Hội 

· Đặc biệt Công Đồng Vaticanô II đã xác định rõ giá trị và vai trò quan trọng của người giáo dân trong các lãnh vực phụng vụ, mục vụ và truyền giáo của Giáo Hội qua các văn kiện Công Đồng như Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh, Sắc Lệnh về Hiệp Nhất và Sắc Lệnh về hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội.

Trước khi tìm hiểu về vai trò của người tín hữu công giáo sau Công Đồng Vaticanô II chúng ta nên tìm hiểu và định nghĩa 

Người tín hữu công giáo là ai?

Theo Hiến Chế tín lý về Giáo Hội thì người tín hữu công giáo (người có đức tin công giáo) là Dân Thiên Chúa hay là người Kitô hữu (người có Chúa Kitô) đã chọn sống theo truyền thống đức tin và quy luật tổ chức của Giáo Hội Công Giáo Roma mà người đứng đầu Giáo Hội là Đức Giáo Hoàng. "Được kể là gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Giáo Hội những ai lãnh nhận Thánh Thần Chúa Kitô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Giáo Hội (GH 14). 

Gia nhập vào Giáo Hội không chưa thể được cứu rỗi nhưng phải sống đời sống đức tin và chu toàn bổn phận của mình trong Giáo Hội thì mới được ơn cứu rỗi " Dù được nhập hiệp vào Giáo Hội, nhưng nếu không kiên trì sống trong đức ái họ vẫn không được cứu rỗi, vì tuy thể xác họ thuộc về Giáo Hội nhưng tâm hồn họ không ở trong Giáo Hội" (GH14). Trong các tín hữu công giáo gồm có hai thành phần. Đó là thành phần giáo sĩ và tu sĩ (gồm các giám mục, linh mục, phó tế và các tu sĩ nam nữ) và thành phần giáo dân. Trước khi trở thành một giám mục, linh mục hay một tu sĩ thì người đó phải là một tín hữu công giáo trước đã. 

Vai trò của người giáo dân công giáo trước Công Đồng Vaticanô II.

· Hình ảnh người giáo dân trước Công Đồng là một đàn chiên ngoan ngoãn và rất thụ động. Chỉ biết lắng nghe và tuyệt đối tuân hành các chỉ thị của Giáo Hội qua những người mục tử gần nhất của mình là các linh mục trong giáo xứ hay cộng đoàn của mình. Không bao giờ giáo dân có quyền thắc mắc hay đặt vấn đề trong công việc giáo huấn hoặc điều hành xứ đạo của các đấng bản quyền. Chống đối các linh mục, đại diện cho Chúa, dù các ngài có đúng hay sai đều bị coi là 'phạm thánh'. Điều này thiết nghĩ có phần nào tốt trong việc bảo vệ và nâng cao giá trị của những người lãnh đạo Giáo Hội, nhưng cũng là lý do gây ra bao tác hại cho Giáo Hội, cho đời sống đức tin của người giáo dân do sự làm dụng quyền hành, lợi dụng vị thế tuyển chọn của mình trong hàng giáo sĩ tu sĩ. Lịch sử Giáo Hội cho thấy rõ sự lạm dụng đó đã nhiều lần xẩy ra trong Giáo Hội từ các đức giáo hoàng, tới các giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ khắp nơi trên thế giới. 

· Trước Công Đồng Vaticanô II thì 'đạo và đời' là hai lãnh vực riêng biệt trong đời sống người giáo dân. Ta thường nghĩ việc đời là việc trần tục không nên lẫn lộn với việc đạo đức thánh thiện của nơi thờ phượng. Chúa là đấng tối cao, công bằng và sẵn sàng theo dõi ta để thưởng phạt cho xứng đáng. Vì thế, việc giữ đạo là để làm tròn bổn phận, để đền tội, để được lên thiên đàng, khỏi phải xuống hỏa ngục v.v... Thánh lễ và bí tích Thánh Thể là trọng tâm của đời sống công giáo mà được cử hành bằng tiếng latinh, giáo dân không hề hiểu. Linh mục cử hành thánh lễ thì quay lưng xuống cho giáo dân xem. Giáo dân hoàn toàn thụ động và không được phép tham gia trong bất cứ phần nào của phụng vụ thánh lễ như đọc sách thánh hay lời nguyện giáo dân hay chia sẻ lời Chúa v.v...

· Ngoại trừ một số những công việc bác ái từ thiện như đi thăm người đau yếu của các thành viên một số hội đoàn như Legiô Mariae thường thì việc rao truyền lời Chúa, dạy giáo lý cho trẻ em và tân tòng được coi là việc của linh mục tu sĩ, không phải là bổn phận của giáo dân. Học hỏi về kinh thánh hay các môn trong khoa thần học rất ít được mở rộng để cổ võ người giáo dân tham gia. Họ chỉ buộc phải học giáo lý căn bản để xưng tội rước lễ lần đầu, chịu phép thêm sức hay khi lành nhận bí tích hôn phối. Lối học đạo rất từ chương chỉ nhằm đạt mục đích yêu cầu của các cha xứ thôi.

· Giáo Hội Công Giáo trước Công Đồng Vaticanô II được tổ chức theo mô thức của một vương quốc có tôn ti trật tự chặt chẽ - Đức Giáo Hoàng là Vua, vương quốc này được cai trị bởi các giám mục là những người được Đức Giáo Hoàng truyền chức và bổ nhiệm trong các chức vụ then chốt của Giáo Hội. Tại Giáo Hội địa phương thì Giáo Hội được cai quản bởi các giám mục và sau đó là các linh mục. Hoàn toàn bởi nam giới. Người giáo dân không có tiếng nói và quyền hành gì trong việc tổ chức và điều hành các cơ cấu của Giáo Hội hoàn vũ cũng như Giáo Hội địa phương. Phụ nữ lại càng không đáng kể hơn. Mặc dầu trong thành phần tạo nên Giáo Hội thì có ít nhất 50% là phụ nữ. 
Cám ơn Chúa vì phần lớn những điều tôi vừa kể trên đã được Công Đồng Vaticanô II, nhờ Thánh Linh Chúa tác động, thay đổi hầu như toàn diện. Đặc biệt Công Đồng Vaticanô II, đã xác định lại rõ ràng đia vị và tầm quan trong của người giáo dân trong Giáo Hội. Vậy sự thay đổi ấy như thế nào? Đó là phần chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp sau đây: 

Địa vị và sứ mạng người giáo dân công giáo sau Công Đồng Vaticanô II

Lần đầu tiên Công Đồng dành hẳn một chương trong Hiến chế tín lý về Giáo Hội để bàn về người giáo dân, về khía cạnh ơn gọi và địa vị của họ trong cơ cấu của Giáo Hội. Công Đồng ban hành một Sắc Lệnh đặc biệt về Tông Đồ Giáo Dân. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay nói về mối tương quan giữa giáo dân với hàng giáo phẩm và những tương quan của họ trong thế giớ ngày nay.

Những biểu tượng nói lên mối tương quan giữ các phần tử trong Giáo Hội sau Công Đồng là những hình ảnh của sự hiệp nhất, của tình bác ái huynh đệ, của tinh thần phục vụ và bình đẳng trước mặt Chúa như : 

· Hình ảnh một thân thể duy nhất: Chúa Kitô là đầu, chúng ta là chi thể.

" Ví như trong một thân thể chúng ta có nhiều chi thể nhưng mọi chi thể không có cùng một nhiện vu; cũng vậy, chúng ta tuy nhiều song là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi người chúng ta là chi thể của nhau (Rm 12,4-5, GH 32)

· Hình ảnh tình huynh đệ dựa trên đức ái và tinh thần phục vụ

"Các chi thể có cùng chung một phẩm giá vì đã được tái sinh trong Chúa Kitô, cùng một ân huệ được làm con cái Chúa, một ơn gọi nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia. Vì thế trong Chúa Kitô và trong Giáo hội không còn có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ " bởi lẽ "anh em không còn là người do Thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, vì anh em hết thảy đều là một trong Chúa Giêsu Kitô (Gal 3, 28, GH 32).

· Liên hệ giữa giáo dân và hàng giáo sĩ dựa trên tinh thần hợp tác, tương kính và phục vụ lẫn nhau chứ không dựa trên quyền hành.

" Thực vậy nếu Chúa phân biệt những thừa tác viên có chức thánh với các thành phần khác của Dân Thiên Chúa thì sự phân chia này vẫn hàm chứa một sự hiệp nhất do những mối liên hệ chung. Các chủ chăn trong Giáo Hội noi gương Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ các tín hữu khác; phần các tín hữu phải sẵn sàng hợp tác với các chủ chăn và những người giảng dạy. Như thế tuy khác biệt nhưng tất cả đề làm chứng sự duy nhất kỳ diệu trong thân thể Chúa Kitô" (GH 32)

Mọi người đều bình đẳng và có giá trị giống nhau trước mặt Thiên Chúa, ân sủng và tình thương Ngài ban cho mọi người đều bằng nhau nhưng tùy cách chúng ta đón nhận ân sủng của Ngài. Trong Giáo Hội của Ngài có các chức vụ khác nhau nhưng không có cấp bậc hơn kém. 

Công Đồng Vaticanô II đặc biệt nhấn mạnh giá trị và tầm quan trọng của sứ mạng người giáo dân trong Giáo Hội. Qua bí tích thánh tẩy và thêm sức, mỗi người giáo dân được mời gọi để tham gia vào ba chức vụ: tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô. Vì thế, cùng với Chúa Kitô, mỗi người giáo dân phải là một tư tế, một tiên tri và một vị vua nhân hậu trong hoàn cảnh riêng của mình. 

Chức tư tế của người giáo dân: Tư tế chung

Vị tư tế là người có quyền làm việc phụng tự, hiến dâng lễ vật để phụng thờ Thiên Chúa. Trong Giáo Hội có hai loại tư tế:

Tư tế thừa tác do bí tích truyền chức cung cấp các linh mục và giám muc cho Giáo Hội. Thánh chức này phát sinh ba nghĩa vụ chính: rao giảng lời Chúa

- ban phát các bí tích - và cai quản dân Chúa.

Tư tế chung do bi tích rửa tội mà mọi giáo dân đều tham gia. Công đồng Vaticanô II khuyến khích người giáo dân tích cực tham gia trong chức vụ tư tế này bằng cách tham gia các phần phụng vụ trong thánh lễ như đọc sách thánh, giúp lễ, dâng của lễ, lời nguyện giáo dân, cho rước lễ v.v....Của lễ của người giáo dân là chính mình và tất cả mọi sinh hoạt, mọi việc tông đồ và những đau khổ thử thách trong cuộc sống hằng ngày ta dâng lên Chúa hợp với lễ vật quý giá vô cùng là Chúa Kitô luôn luôn được hiện tại hóa trong thánh lễ để dâng lên Thiên Chúa. Qua việc tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô, người giáo dân thánh hóa mình và thánh hóa thế giới.

Vai trò ngôn sứ - tiên tri của người giáo dân 

(Tri: biết; tiên: trước) Trong Cựu ước thì tiên tri (người biết trước sứ điệp của Chúa) là người được Chúa chọn để đại diện cho Ngài mang những sứ điệp của Ngài đến cho dân Chúa như Maisen hay tiên tri Jeremia. Chúa Kitô là tiên tri của Tân ước. Ngài là Lời Chúa Nhập thể làm người và đồng thời Ngài đã lập ơn cứu độ bằng mầu nhiệm vượt qua. Những ai chịu phép rửa và thêm sức đều trở thành chi thể của Chúa Kitô nên được tham dự chức tiên tri của Ngài bằng cách: 

- loan truyền phúc âm cho mọi người
- làm chứng cho Chúa Kitô bằng lời nói, việc làm và cả cuộc sống .

Công Đồng Vaticanô II đặc biệt kêu mời giáo dân tích cực rao truyền phúc âm bằng đời sống chứng nhân - là men, là muối, là ánh sáng trong môi trường gia đình và ngoài xã hội nơi họ làm việc hay sinh hoạt thường ngày. Đem đạo vào đời: phúc âm hóa môi trường xã hội ngoài đời người giáo dân làm hữu hiệu và thích hợp hơn người tu trì vì người giáo dân là những người sống giữa trần gian. "Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ để dưới sự hướng dẫn cúa tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế với lòng tin cậy mến sáng ngời và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác" (GH 32)

Địa vị vương giả 

Vương: Vua, người cai quản một quốc gia. Đế vương là một ông vua độc tài ai cũng kinh sợ. Chúa Kitô ngài là vua thực sự nhưng là vua tình yêu, ai cũng mong Ngài làm vua. Ngài làm vua thực sự vì vũ trụ này được tạo dựng là nhờ Ngài. Khi bởi tội của Adam vụ trụ bị hư đi, Ngài đã xả thân cứu chuộc, đưa vũ trụ ra khỏi xiềng xích satan. Khi về trới Ngài đã sai Thánh Thần xuống để tiếp tục đổi mới vũ trụ. Chúa Kitô là vua tình yêu và đối với Ngài cai trị là phục vụ, là kêu gọi mọi người hãy thương yêu nhau như ngài đã yêu thương, là ban ơn sủng để chúng ta được nên thánh.
Vì thế, mọi người đều chạy đến với ngài: người bệnh tật đến xin chữa lành, người đau khổ đến xin an ủi, người nghèo khó để được no đầy ơn thánh, người giầu sang quyền thế để được ơn cứu rỗi.

Qua bí tích thánh tẩy mọi người giáo dân được Chúa Kitô cho tham phần vào địa vị vương giả của ngài

"Vương quyền ấy người đã thông ban cho các môn đệ của Ngài để họ được hưởng sự tự do vương giả để đánh bại nước tội lỗi trong chính mình họ bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện, hơn nữa để khi phụng sự Chúa nơi tha nhân họ khiêm nhường và kiên nhẫn dẫn đưa anh em mình đến cùng đức vua, là đấng đã nói nếu ai làm tôi thì làm vua " (GH 36)

Ta có thể làm vua với chúa Kitô trong ba cách sau đây:

a) Sống trong ân sủng: lãnh nhận các bí tích, tu luyện các nhân đức và cầu nguyện

b) Chinh phục tha nhân; Truyền giáo: đời sống Kitô hữu là những chuỗi ngày truyền giáo. Trước hết ta phải làm hiện tỏ gương mặt của Chúa Kitô trong đời sống của chúng ta bằng một đời sống công bình bác ái rồi mới nói cho người khác biết điều mình tin tưởng. Phong trào cũng dạy ta trước tiên phải làm người khác trở thành bạn rồi mới nói với bạn về Chúa. Truyền giáo không cưỡng bách, phải cho ngưới lãnh nhận được hoàn toàn tự do. 

c) Thánh hóa trần gian: Chúa Kitô không những làm vua tâm hồn con người nhưng ngài còn làm vua cả hoàn vũ nữa, cả cuộc sống của loài người. Vì thế, mọi sinh hoạt trần thế (chính tri, văn hóa, xã hội v.v...) cần phải thấm nhuần tinh thần phúc âm, ngõ hầu nước Chúa được hiển trị khắp nơi. 

Tóm lại khi chúng ta tìm hiểu về vai trò của người giáo dân sau Công Đồng Vaticanô II, chúng ta thấy có nhiều điểm trùng hợp, rất quen thuộc mà chúng ta đã được học hỏi qua tinh thần và đường hướng sống của Phong trào Cursillo. Theo gương Thầy Chí Thánh chúng ta cố sống giống như Ngài, làm cho gương diện của Ngài được tỏ lộ nơi chúng ta. Sống với mọi người trong tình hiệp nhất yêu thương chân thành. Thánh hóa bản thân để có thể dấn thân phục vụ và phúc âm hóa môi trường mình đang sống và sinh hoạt. Đó là những điều chúng ta phải liên tục cố gắng thực hành trong cuộc sống ngày thứ tư của mỗi người. Đó cũng chính là sứ điệp mà Thánh Công Đồng Vaticanô II gởi tới mỗi người giáo dân. Vậy nếu chúng ta sống đúng tinh thần của phong trào thì chúng ta cũng sống trọn sứ điệp của Thánh Công Đồng Vaticanô II.