LOAN BÁO TIN MỪNG BẰNG CHỨNG NHÂN
Lệnh truyền của Thầy:
"Chính anh em là chứng nhân về những điều này" (Lc 24,48).
"Những điều này" là những điều gì? Thưa đó là: "Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại. Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội" (Lc 24, 46-47). Đức Kitô đã làm chứng cho Chúa Cha, tới một mức trổi vượt trong cuộc sống, trong sự chết và trong sự phục sinh của Người: "Đức Giêsu Kitô là vị chứng nhân trung thành" (Kh. 1,5), "Đây là lời của Đấng Amen, là chứng nhân trung thành và chân thật, là khởi nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng" (Kh. 3,14). Rồi chính Người lại sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Người tại Giêrusalem, khắp miền Giuđa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất. Chính nhờ chứng tá của các Tông Đồ truyền lại từ thời nọ qua thời kia mà ngày nay chúng ta được đón nhận giáo lý Tin Mừng cứu độ. Chứng tá của các Tông Đồ luôn qui về điều căn bản này là: Đức Kitô đã chết và phục sinh, Người là Đấng Cứu Độ duy nhất. Trước Thượng Hội Đồng Do Thái cấm họ rao giảng Đức Kitô phục sinh, hai tông đồ Phêrô và Gioan đã khẳng khái đáp: "Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra" (Cv 4, 20). Về sau chính thánh Gioan cũng viết: "Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời..." (1Ga 1, 1-3).
Lệnh truyền này cho tới ngày nay vẫn chưa chấm dứt, và còn kéo dài mãi mãi...
Giáo huấn của Giáo Hội:
Trong Tông huấn PÂH thế giới ngày nay (Evangelii Nuntiandi), Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nhắn nhủ: "Ta thấy trước hết cần phải nhấn mạnh điểm sau đây: Đối với Giáo Hội, phương tiện hữu hiệu nhất của việc phúc âm hóa là sự chứng tá về một cuộc sống Kitô hữu chân chính, đang tận hiến cho Thiên Chúa trong sự hiệp thông, mà không quyền lực nào hủy diệt được, và đồng thời dâng hiến cho tha nhân với lòng nhiệt thành vô biên. Ta đã từng lên tiếng với một nhóm giáo dân mới đây: "Con người thời đại mới thích lắng nghe các chứng nhân hơn các giáo sư. Và nếu như họ lắng nghe các giáo sư, chính vì các vị này là những chứng nhân." Thánh Phêrô đã diễn tả điều này thật rõ ràng khi chưng ra thí dụ về một cuộc sống đạo đức và trong sạch. Gương sáng này, dù không một lời nói ra, đã đánh động tâm hồn những người đã chối từ những lời chỉ dạy. Do đó, chính với phẩm cách và đời sống mình, mà Giáo Hội sẽ phúc âm hóa thế giới, nói cách khác, bằng sự chứng tá sống động về lòng trung thành của mình với Chúa Giêsu, chứng tá về sự khó nghèo và siêu thoát, về sự tự do khi đối đầu với các quyền lực thế trần. Nói tóm lại, là chứng nhân của sự thánh thiện." (Đoạn 41).
Tiếp theo, trong thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Độ (Redemptoris Missio), Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II quả quyết: "Con người thời nay tin vào các nhân chứng hơn là các thầy dạy. Tin vào kinh nghiệm hơn là đạo lý, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là các lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giáo là chứng tá đời sống người Kitô hữu, hình thức này là điều không thể thay thế...
Chứng tá Tin Mừng mà thế giới dễ cảm nhận nhất là chứng tá về thái độ lưu tâm đến con người và về lòng bác ái đối với những người nghèo, những người nhỏ bé và những người đang đau khổ. Tính cách vô vị lợi trong thái độ và trong những hành động này tương phản sâu xa với thái độ ích kỷ hiện nay nơi con người, gợi lên những thắc mắc rõ ràng về Thiên Chúa và Tin Mừng. Cũng vậy, việc dấn thân phục vụ hòa bình, công lý, nhân quyền, thăng tiến con người, là một chứng tá Tin Mừng, tùy nó chú ý nhiều đến con người và nhằm phát triển toàn diện con người đến mức nào.
... Giáo Hội được mời gọi làm chứng cho Đức Kitô bằng cách bày tỏ những lập trường can đảm có tính cách ngôn sứ trước sự băng hoại của quyền lực chính trị hoặc kinh tế; bằng cách không tìm vinh quang cũng như của cải vật chất, bằng cách xử dụng những gì mình có để phục vụ những người nghèo khổ nhất, và bằng cách noi gương đời sống đơn sơ của Đức Kitô. Giáo Hội và các nhà truyền giáo cũng phải nêu lên chứng tá về lòng khiêm tốn, trước hết đối với chính mình, khi dám tự kiểm thảo ở mức độ cá nhân cũng như cộng đoàn, ngõ hầu sửa chữa lại cung cách sống của mình những gì đi ngược với Tin Mừng và làm biến dạng dung nhan của Đức Kitô". (Đoạn 42 và 43)
Năm nay khi đến gặp giới trẻ Thụy Sĩ, Đức Giáo Hoàng đã tha thiết kêu gọi: "Trong ngàn năm thứ ba này, tất cả các con đều được mời gọi công bố Tin Mừng qua chứng tá đời sống chúng con. Giáo Hội cần đến năng lực của các con, sức hăng say nhiệt tình của các con, những lý tưởng của người trẻ, để làm cho Tin Mừng được ăn sâu vào trong tế bào xã hội, và làm nẩy sinh một nền văn minh công bằng đích thực, và là nền văn minh tình thương không phân biệt, kỳ thị".
Trong bài diễn văn đọc dịp các giám mục Hoa Kỳ về Roma viếng mộ hai thánh Phêrô và Phaolô theo như quy định trong tháng 6 vừa qua, Đức Giáo Hoàng cũng đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hai yếu tố thiết yếu để chu toàn tác vụ; đó là "chứng tá của chính cá nhân sống đức tin và thánh thiện", và "chứng tá của cơ chế".
Thế nào là làm chứng cho Chúa?
Khi được kêu gọi làm chứng cho một sự kiện, nhân chứng sẽ nói lại đúng như những gì mình đã chứng kiến, đã mắt thấy tai nghe. Nhiệm vụ của họ chỉ có bấy nhiêu. Chứng nhân của Chúa không chỉ làm như vậy, và còn hơn nữa: họ nhiệt thành với điều mình biết và tin, họ tha thiết chia sẻ một chân lý mà mình quý trọng và muốn cho kẻ khác cũng được biết, cũng yêu mến. Điều họ chia sẻ không phải chỉ là một lý thuyết nhưng là một lẽ sống mà chính họ đang thực nghiệm. Sức mạnh của lời chứng của họ trước tiên là ở chính nơi cuộc sống đó. Cuộc đời của Chúa Giêsu, của các Tông Đồ và những nhà truyền giáo cho thấy chứng nhân khác với thầy dạy, hay một cán bộ, một nhà tuyên truyền. Chứng nhân của Chúa thì coi cả cuộc đời mình là cuộc đời làm chứng, còn thầy dạy hay một cán bộ thì chỉ làm phận sự truyền đạt một tri thức, một lý thuyết trong một thời điểm mà thôi. Đối với Kitô giáo chúng ta, chứng nhân có thể sẵn sàng chết cho điều mình rao giảng.
Có ba cách làm chứng: nói, làm và chết. Hiệu năng nhất là cách thứ hai và thứ ba. Vì ai cũng biết nói thì dễ, làm khó hơn, và dám chết cho điều mình tuyên xưng lại càng khó hơn nữa. Có việc làm cụ thể, lời mình nói sẽ đáng tin hơn. Các cụ ta ngày xưa đã nói: "Lời nói lung lay, gương lành lôi kéo" hay "trăm nghe không bằng một thấy". Cũng theo Đức Phaolô VI, làm chứng bằng hành động cụ thể là một cách rao giảng thầm lặng. Không nghe được, nhưng thấy được và rất hữu hiệu; nhất là đối với con người thời nay, thời mà người ta đề cao sự thực nghiệm, muốn "rờ tận tay, thấy tận mắt", cái gì cũng muốn phải được chứng minh. Năm 1937 Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc Ấn Độ nói với các nhà truyền giáo: "Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình toả lan. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân của các ngài khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu chứ không phải chú giải nó". Thật đúng là: "Hữu xạ tự nhiên hương".
Chúng ta phải làm gì?
Mỗi người đều đã được Chúa ban cho một ơn gọi riêng và đặt để trong những môi trường để thực thi sứ mạng.
Để cho việc loan báo Tin Mừng được thuyết phục, ta phải sống thế nào cho cuộc đời mình trở thành đáng tin. Đới sống đáng tin thì tự nhiên lời nói cũng đáng tin. Loan báo Tin Mừng đặc biệt thích hợp cho ngày nay là đời sống biểu lộ được trọn vẹn đức tin Kitô giáo. Thánh Giacobê đã nhắn nhủ: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết". Một đức tin đích thực sống động phải được diễn tả bằng việc làm. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin, có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng mà chúng ta suy phục, tôn thờ.
Đời sống đức tin phải là đời sống chứng nhân. Như vậy toàn bộ cuộc sống của ta đều phải là chứng nhân: từ lời ăn tiếng nói, đến cách cư xử, giao tiếp, trong gia đình, ngoài xã hội, khi làm việc, khi vui chơi giải trí... Đối với người có ý thức truyền giáo thì nhất nhất việc gì, khía cạnh nào của đời sống họ cũng có thể là lời loan báo.
Sự phục vụ đúng đắn của người trợ tá trong khóa Ba Ngày là hình thức chứng nhân cao đẹp. Họ rao truyền bằng chính việc làm cụ thể. Việc làm thay thế cho lời nói.
Thầy đã nói: "Chính chúng con là muối cho đời" và "chính chúng con là ánh sáng cho trần gian" (Mt 5,13). Muối đã nhạt thì đúng là vô dụng chỉ còn nước đổ đi. Ánh sáng mà lấy thùng úp lại thì cũng như không.
Chúng ta liệu có còn là men, là muối, là ánh sáng nữa không? Một câu hỏi thực tế không thể bỏ qua, mỗi người đều cần tự đặt vấn đề mỗi ngày.
Để giúp các Cursillista trong vai trò chứng nhân, Phong Trào có tạo những dịp để chia sẻ. Các chia sẻ trong Phong Trào đều mang tính chất chứng nhân: chia sẻ nơi nhóm cũng như tại Ultreya. Chia sẻ đúng có lợi ích cho cả người chia sẻ lẫn người nhận chia sẻ. Đây là dịp giúp mọi người thăng tiến, là những món quà quý giá mỗi người thân ái trao tặng cho nhau. Khi không có gì để chia sẻ cũng là lúc cho chúng ta cần xét lại...
Còn một điều nữa rất quan trọng: hoa có tỏa được hương thơm thì trước hết đó phải là hoa thơm. Trước khi làm chứng nhân để loan báo Tin Mừng, thì chính chúng ta đã phải là Tin Mừng. Đó mới là chứng thật. Điều này thể hiện được khi chúng ta có sự cố gắng và luôn sống kết hiệp mật thiết với Thầy Chí Thánh, có
Thầy hiện diện sống động trong chính con người mình, để có thể nói như thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).
Cầu xin các thánh Tử Đạo Việt Nam phù giúp chúng con và cho chúng con biết bắt chuớc các Ngài.
Bản Tin tháng 8