THE OLD PILGRIMS' WAY

"The road has no beginning,
And the road has no end.
The towns they run together
And they run apart again.
Right now is the only moment, and Time is the time to go 
To make yourself a pilgrim
On the road to Santiago".

(Gitlitz and Davidson, 2000, pxix)

Trong năm vừa qua, tôi đã có được cơ hội để biến một giấc mơ của bao năm thành sự thật, tôi đã được hành hương dọc theo lộ trình nguyên thuỷ của đoàn hành hương đã đi vào lịch sử của những năm xa xưa để kính viếng mộ Thánh Giacôbê Tông Đồ. Giấc mơ mà tôi hằng ao ươc được thực hiện từ mười tám năm về trước, kể từ ngày tôi dự Khóa Ba Ngày và được nghe nói về lý tưởng cao quý mà đoàn thanh niên tại Tây Ban Nha khi xưa đã nhận ra sau chuyến hành hương lịch sử, và đó cũng là khởi điểm hình thành Phong trào Cursillo. Ngay từ lúc nhận ra được ý nghiã và ơn ích đón nhận từ chuyến hành hương nguyên thuỷ ấy, tôi đã tự nhủ với chính mình và cho đây là một ơn gọi cá nhân mà tôi phải quyết tâm thực hiện không sớm thì muộn.

Cộng thêm vào đó, trong Đại Hội Cursillo Toàn Quốc tại Melbourne 2001, giấc mơ của tôi đã được khơi dậy qua phần trình bày của Linh mục Morgan Batt, cha đã xem chuyến hành hương là một phương thức trị liệu cho cha sau khi bị khủng hoảng tinh thần trầm trọng do ảnh hưởng của vụ thảm sát tại Port Arthur năm nào, khi đó cha đang là cha xứ của xứ đạo Richmond, Tasmania. Tham dự viên đã thật sự bồi hồi đánh động qua bài chia sẻ của cha, và chúng tôi đã quyết tâm lên chương trình để thực hiện giấc mơ của bao năm ao ước.

Từ thế kỷ thứ 9, lộ trình hành hương từ rặng núi Pyrene, theo hướng tây tiến đến giáp ranh miền bắc Tây Ban Nha đã được coi là lộ trình truyền giáo của Thánh Giacôbê Tông Đồ. Trong thời kỳ Giáo Hội tiên khởi, Thánh Giacôbê Tông Đồ đã được gửi đến Tây Ban Nha truyền giáo. Ngài đã không đạt được thành công lắm trong công việc nên đã trở về lại Jerusalem và tử vì đạo vào năm 42AD. Các môn đệ đã đưa xác ngài về chôn cất tại Galicia, nơi nhiều phép lạ đã xảy ra và từ lúc đó đã trở thành một trong ba điạ danh hành hương chính, chỉ sau hai điạ danh Jerusalem và Roma mà thôi. Cũng giống như hoàn cảnh của chúng ta ngày nay, Thánh Giacôbê Tông Đồ đã gặp phải nhiều khó khăn trong công việc truyền giáo, những hạt giống truyền giáo trên đất Tây Ban Nha chỉ được nẩy mầm và sanh hoa trái sau khi Ngài đã qua đời.

Có nhiều nguyên do và động lực thúc đẩy để chúng ta đi hành hương, có người muốn cảm nhận được sức sống tâm linh, có người muốn tạ ơn hoặc xin được chữa lành, có người muốn tìm cảm giác qua chuyến đi mạo hiểm. Cho dù trong một hoàn cảnh nào đi nữa, người hành hương cũng đã tách bỏ những âu lo trong cuộc sống hằng ngày để chỉ chú tâm trọn vẹn vào cuộc hành hương để có thể xứng đáng đón nhận ơn lành thánh. Theo lời truyền miệng, chặng đường hành hương càng khó khăn hiểm trở bao nhiêu thì càng bảo đảm sẽ đón nhận nhiều ơn lành bấy nhiêu.

Để theo cách thức của một chuyến hành hương truyền thống, người hành hương cần có phép của Đức Giám Mục và được cấp giấy tờ chứng nhận. Trước khi khởi hành, người hành hương cần phải trang trả hết những món nợ, làm hoà với kẻ thù nghịch mình, lập di chúc và xưng tội. Họ trang sức với y phục giống nhau, đầu đội nón vành to, giầy dép đơn sơ nhưng chắc chắn, tự mang theo thức ăn thức uống, và một cây gậy để chống đi hoặc dùng để tự bảo vệ khi cần đến. Tất cả mọi người hành hương đều trang sức giống nhau, họ sẽ không còn bị phân biệt về giai cấp xã hội và cảm thấy được bình đẳng.

Nhóm hành hương từ Australia của chúng tôi gồm những anh chị Cursillistas mong muốn theo phương thức hành hương truyền thống, đồng thời cũng đi theo chặng đường hành hương cao quý mà những người sáng lập Phong trào Cursillo đã đi qua trong năm 1948, chuyến hành hương đã mang lại cho mọi người một cộng đồng hiệp nhất để sống chứng nhân cho đức tin. Thật quý hóa, chúng tôi được đi lại trên chính chặng đường của những vị sáng lập Phong trào đã đi qua.

Năm 1948, nhân ngày lễ mừng kính Thánh Giacôbê Tông Đồ, Đức Giáo Hoàng kêu gọi thanh thiếu niên công giáo của Au châu và Nam Mỹ triệu tập về Santiago. Ong Eduardo Bonnin và các bạn hữu đã vận động một đoàn gồm 622 thanh niên cùng đi hành hương, đoàn người hăng say vừa đi vừa hát vừa cầu nguyện xuyên qua suốt quảng đường đất nước Tây Ban Nha, một bức tranh sống động của đoàn người chứng tá của Tin Mừng, trong một xã hội đang suy thoái đức tin trong bối cảnh của đất nước Tây ban Nha thời đó.

Trên bước đường hành hương, ngoài thú thưởng lãm bao nhiêu là danh lam thắng cảnh ngoạn mục mà Thiên Chúa đã tạo dựng, tôi cũng không quên tận dụng những giờ phút thinh lặng để cầu nguyện cho Phong trào Cursillo, cho từng người, từng khuôn mặt mến thương, những người mà tôi có cơ hội gặp mặt cũng như những anh chị em Cursillistas chưa từng được gặp, tôi xin dâng từng người lên Thiên Chúa qua lời cầu nguyện. Đoạn đường dẫn đến Camino, một vùng với đồng lúa, sông ngòi, núi rừng và những thung lũng tuyệt đẹp, nào là những bông hoa rừng muôn màu muôn sắc, những ngôi làng với những chiếc cầu nhỏ xinh xinh, nào là tiếng gà gáy vào những buổi sáng tinh sương, trong bầu khí trong lành, và một tâm hồn thảnh thơi sảng Khóai. Tất cả đã góp phần phụ họạ sống động cho nhạc bản De Colores quen thuộc của Phong trào.

Như trong Khóa Ba Ngày, chúng tôi được suy niệm và tham dự thánh lễ mỗi ngày trong những nhà nguyện hoặc thánh đường tuyệt đẹp trên suốt quảng đường. Cảm giác lâng lâng khi được cầu nguyện tại những nơi mà hằng bao thế kỷ đã có biết bao nhiêu khách hành hương đã đến kính viếng và cầu nguyện.

Tôi cứ nghĩ về những cảm nghiệm giống nhau giữa chuyến hành hương và Khóa Ba Ngày. Chúng ta thường ví Khóa Cursillo như một cuộc hành hương kéo dài trong ba ngày, và một điểm tương đồng nữa là chúng ta đã bỏ lại đằng sau những vấn vương trong cuộc sống để vào nhập Khóa, nơi chúng ta có được những ngày giờ thinh lặng để nhìn lại chính mình, nhìn lại mối tương quan giữa mình và tha nhân, giữa mình và Thiên Chúa. Hơn thế nữa, một cộng động Kitô đã được thành lập trong Khóa Ba Ngày, và một cộng đồng Kitô cũng đã được tạo dựng sau ba tuần lễ hành hương. Chúng tôi đã nhập cuộc và khởi hành chuyến hành hương như những cá nhân riêng rẽ nhưng đã kết thúc trong sự gắn bó như một. 

Nhìn lại thành quả của chuyến hành hương của năm 1948, một thành đạt dẫn đến sự thành lập và phát triển Phong trào Cursillo đến khắp thế giới. Nhưng thật ra, hạt giống Cursillo đã không được trổ hoa trái nếu chỉ dưạ vào thành quả của chuyến hành hương năm xưa mà thôi; mà phần chính là do ảnh hưởng của sức mạnh tâm linh cùng những quyết tâm mà đoàn thanh niên công giáo đã có được trong những năm dài chuẩn bị và cầu nguyện. 

Sau chuyến hành hương của nhiều năm mơ ước, tôi đã trở về mang theo nhiều băn khoăn suy nghĩ. Việc gì đã xảy đến cho tôi? Có những ngày tôi cảm nhận là không một mảy may thay đổi trong tôi, rồi có những ngày tôi cảm thấy được tràn đầy ơn phúc, cảm tạ vì đã thực hiện được mong ước của cả đời người, và rồi có những ngày tôi cảm thấy là tôi vẫn còn đang trên đường kiếm tìm. Xin cảm ơn gia đình thân yêu đã cho tôi cơ hội thực hiện giấc mơ của bao năm đeo đuổi. Hình như tôi đã mong là sẽ tìm được nhiều giải đáp cho cuộc sống, nhưng rồi tôi chỉ có thể nhận thấy được là sự cần thiết để sống mỗi ngày dưạ trên từng phút giây mà mình đang sống, biết chú tâm để bước từng bước một và sẵn sàng đón nhận những gì Thiên Chúa gửi đến cho mỗi người.

Và từ dạo đó, hằng ngày tôi tự hỏi là "Chúa muốn tôi làm gì mỗi ngày trong cuộc sống để Ngài cùng đồng hành trên suốt quảng đường ?" và "Ngài muốn các anh chị làm gì ?"

De Colores

Merran Martin
(Ban Truyền Thông Brisbane phỏng dịch)

"
The Old Pilgrims' Way", một trong những đề tài chính được chị Merran Martin - cựu Chủ tịch Phong trào Cursillo toàn quốc - trình bày trong Đại Hội Cursillo Australia Toàn Quốc tại Adelaide trong tháng 6 năm nay. Chị Merran là một phụ nữ trạc tuổi trung niên, nét mặt hiền nhưng hơi nghiêm nghị, sâu sắc trong ý nghĩ và đặc biệt là chị luôn có thiện cảm chia sẻ với người tỵ nạn và di dân. Chị là một Giáo sư đang làm việc với Bộ Giáo Dục đặc trách về các sắc dân tại Canberra. "