THỦ PHẠM CHÍNH LÀ CON

Chúng ta thường nghe nói "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính". Câu nói đó đã trở thành một lý do mạnh mẽ mà nhiều cha mẹ thường viện vào mỗi khi đề cập đến vấn đề giáo dục con em của họ, nhất là những cha mẹ có những người con không dễ nghe, dễ dạy, thường gây đau khổ cho gia đình, họ thường lấy làm an ủi vì đã hoàn tất sứ mạng là sinh con, và phần còn lại thuộc về ông trời là sinh tính. Trong những trường hợp gặp phải sự chống đối của xã hội, của luật pháp về những lỗi lầm do con cái gây ra, hoặc khi bị những lời bình phẩm về những hành động không mấy tốt đẹp của con mình, các cha mẹ thường nói: "Ai đẻ con ra mà không muốn cho nó nên người đàng hoàng. Khổ một nỗi, cha mẹ sinh con trời sinh tính".

Thật ra, không phải ông trời đã sinh ra những tính nết xấu xa của bất cứ ai, cũng như không bắt cha mẹ phải sinh ra một đứa con ngoài ý muốn của họ. Nếu cha mẹ có ý định tốt và muốn có những đứa con tốt, họ vẫn có thể cộng tác với Thượng đế để tạo dựng những đứa con như vậy. Vì thế ảnh hưởng giáo dục và tâm chất của cha mẹ có một ràng buộc mật thiết với người con. 

Trong ca dao tục ngữ của Việt Nam có câu: "Cây xanh thì lá cũng xanh. Cha mẹ hiền lành để đức cho con" hay là câu: "Phúc đức tại mẫu." hoặc tiêu cực hơn thì nói: "Cha nào, con nấy". Ngay trong Kinh thánh, khi quảng diễn về trách nhiệm giáo dục cần thiết mà cha mẹ phải có đối với con cái, Chúa Giêsu cũng đã liên kết hành động hỗ tương này khi đưa ra nhận xét: "Có ai hái trái nho trong bụi gai, hoặc trái vả nơi rào lũy chăng? Bởi vậy, cây tốt ắt sinh trái tốt, cây tốt đời nào sinh trái xấu; cây xấu nở trái tốt sao được." (Mt. 7:16-18) Và Ngài đã kết luận: "Cứ xem quả thì biết cây" (Mt. 12:33)

Quan niệm sống bình dân cho thấy, cây vả bao giờ cũng sinh trái vả, cây nho bao giờ cũng sinh trái nho. Có chăng trong những cây nho tốt một đôi khi sinh ra những chùm nho chua, hoặc những cây vả tốt một đôi khi cũng sinh ra những trái vả xấu. Nhưng đó chỉ là những trường hợp mà ngôn ngữ loài người thường cho như một tai nạn, hoặc xẩy ra ngoài ý muốn. Tuy nhiên, ngay trong những trường hợp như vậy cũng vẫn có những lý do từ nhiều phía. Thí dụ cây nho trổ hoa gặp ngày trời giông bão, hoặc cây vả trổ hoa nhằm thời gian sâu bọ cắn phá. Sự thụ tinh và kết trái của những chùm nho và trái vả trên gặp phải những ngăn trở và thiếu yếu tố thuận lợi ngay từ ban đầu. Do đó, nếu nó trở thành nho chua, hoặc trái vả thui chột, thì đó cũng là một trường hợp ngoài tầm kiểm soát của người làm vườn.

Nhưng trong trường hợp tương quan giữa cha mẹ và con cái, những vấn nạn trên dù sao vẫn có thể ngăn cản được. Người làm cha mẹ để ý ngay từ ban đầu với chủ tâm tốt và cải thiện cuộc sống, họ vẫn có cơ hội sinh được những người con tốt. Tốt ở phương diện tâm linh chứ không hẳn phải đẹp ở phương diện thể lý. Cha mẹ đóng vai trò chủ yếu trong việc sinh dưỡng và giáo dục con cái. Vậy cha mẹ phải giáo dục con từ khi nào. Thời điểm nào là lúc thuận tiện để giáo dục chúng? 
Nhà tâm lý Trần Mỹ Duyệt cho rằng phải giáo dục đứa trẻ ngay khi người cha hoặc người mẹ có ý định muốn có con và mong có con. Có nghĩa là, những người làm cha mẹ tương lai phải nuôi trong tâm hồn mình hình ảnh những người con mà mình sẽ đem vào đời. Chính tâm tư đó sẽ hướng dẫn họ phải chuẩn bị hành trang làm một người cha, một người mẹ như thế nào? Đây là phương pháp giáo dục của cha mẹ Thánh nữ Terexa Hài đồng Giêsu. Khi biết mình không có ơn kêu gọi làm Linh Mục và Nữ tu, ông Louis và bà Maie đã âm thầm cầu nguyện xin Chúa cho mình nhiều con để dâng cho Chúa làm việc tông đồ thay cho mình. Ước nguyện đó đã được thực hiện, ông bà có 9 người con, bốn trai và năm gái, nhưng 4 người con trai đã qua đời ngay từ tuổi thơ, còn 5 người con gái đã trở thành Nữ tu, trong đó có một vị Thánh tiến sĩ của Giáo hội mặc dù sống trên đời chỉ có 24 năm.

Quan niệm giáo dục này không những giúp cho cha mẹ biết mình cần phải sống như thế nào, làm gì, và chuẩn bị gì cho trách nhiệm của mình sau này, Nhờ những suy tư thường xuyên nung nấu và âm ỷ cháy trong lòng, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp vào cuộc đời của đứa trẻ sau này. Giáo sư tâm lý Barbara S. Kisilevsky cùng với 7 giáo sư tâm lý khác đã bỏ công nghiên cứu về sự liên hệ mật thiết giữa thai nhi chưa ra đời với người mẹ. Họ thí nghiệm với các thai nhi 38 tháng, cho các em nghe băng thâu tiếng nói của mẹ em trong vòng hai phút. Nghe tiếng mẹ, nhịp tim của các em bé chưa sinh này đập nhanh hơn. Khi cho nghe tiếng nói của người phụ nữ không phải mẹ em, tim của các em đập chậm lại. Giáo sư giải thích, các em cảm thấy kích thích khi nghe giọng nói của mẹ nên tim đập nhanh, còn khi các em nghe giọng nói của người khác, sự chú ý đối với giọng nói lạ khiến tim đập chậm lại. Kết quả trên xác nhận quan niệm giáo dục của tổ tiên chúng ta, là bất cứ điều gì người mẹ nói hoặc làm, hay những cảm xúc, suy nghĩ trong đầu, lúc mang thai con trong bụng, đều có ảnh hưởng đến đứa con sau này. Nếu thai nhi nhận biết được giọng nói nào là giọng nói của mẹ mình, thì chắc hẳn cũng cảm nhận được lúc nào mẹ đang nóng giận, lúc nào trong lòng mẹ bình an hạnh phúc.

Một người mẹ biết tự làm chủ tâm hồn, lời nói và hành động của mình, người mẹ đó chắc hẳn đem lại hạnh phúc cho con, ngay từ khi còn là thai nhi. Nếu đứa trẻ có thể nhận ra tiếng nói của mẹ mình và rung động, tim đập nhịp nhanh hơn, thì người mẹ nên nói những lời ngọt ngào, khoan dung, nghiêm chỉnh. Ý tưởng nên tránh những điều gây nên mầm ác, giữ sao cho lòng tràn đầy tính thiện, như thế sẽ tạo được ảnh hưởng tốt cho con. Là một người mẹ công giáo thì lúc mang thai nên làm những bổn phận tôn giáo thường xuyên hơn, vì đó là cách giũ lòng mình bình an, truyền nguồn hạnh phúc cho em bé. Người cha cũng đóng một vai trò rất quan trọng để giáo dục thai nhi, bằng cách giữ sự bằng an trong gia đình, không gây rối loạn tâm hồn người mẹ.

Nhưng nếu đi vào sự ứng dụng, cụ thể và thiết thực hơn trong đời sống con người, thì những người làm cha mẹ phải lưu ý và để tâm săn sóc, giáo dục con ngay từ giây phút đầu lọt lòng mẹ, và trong thời gian tuổi còn thơ. Nhiều cha mẹ đã bỏ lỡ cơ hội giáo dục này khi con còn thơ trẻ, đợi đến khi chúng bước vào tuổi vị thành niên tức là tuổi từ 12-18 tuổi mới vội vã giáo dục, thì không thể trách được trời, và cũng không thể trách được môi trường xã hội. Chỉ còn một điều là phải trực diện với những kết quả do sự thiếu xót trách nhiệm của mình mà thôi.

Như vụ thảm sát đã xẩy ra cách đây 3 năm, mà vào cuối tháng 5 năm 2004, toà án đã tuyên bố thủ phạm chính là người con trai 23 tuổi, được cha mẹ cưng chiều, đã giết chết 3 thân nhân trong gia đình vào tháng 7 năm 2001 tại vùng North Ryde. Đó là Sef Gonzales thuộc gia đình di dân gốc Philippines, giết người cha là một luật sư hành nghề tại vùng Blacktown, người mẹ và người em mới 18 tuổi. Mọi người đều bàng hoàng trước cái chết oan nghiệt này, vì hai vợ chồng đều làm ăn lương thiện, hai con đều học đại học. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến Sef nỡ ra tay giết chết những người thân yêu nhất của mình? Theo cuộc diều tra của cảnh sát thì Sef rất bất mãn với cung cách đối xử của cha mẹ, mặc dù cha mẹ rất thành công trong nghề nghiệp. Họ đặt mộng rất cao về Sef, muốn cậu trở thành bác sĩ giải phẫu hoặc là một luật sư để nối nghiệp cha. Nhưng Sef đã làm cho cha mẹ thất vọng vì không những Sef không thể theo đuổi những nghề nghiệp mà họ mong muốn, mà Sef lại sắp bị đuổi ra khỏi trường đại học vì thi rớt. Cha mẹ của Sef cũng rất ngặt nghèo trong những giao dịch của hai người con. Bốn ngày trước khi án mạng xảy ra, mẹ của Sef đã cho cậu biết gia đình không chấp nhận nếu cậu cứ tiếp tục gặp gỡ người bạn gái của cậu mà cha mẹ không muốn. Cha mẹ cậu đe doạ sẽ không cho tiền cũng như xử dụng chiếc xe Ford Festiva, vì sợ cậu chở bạn gái đi chơi không chịu học hành và Sef phải đi xe bus tới đại học, mà việc này Sef rất bất mãn ...

Biết bao nhiêu sách vở viết ra từ các bác sĩ khoa nhi, các bác sĩ tâm thần, hoặc các chuyên gia tâm lý, họ có thể dành nhiều năm nghiên cứu tâm lý trẻ trong một góc phòng yên tĩnh của thư viện, nhưng liệu những điều đó có làm cho họ có thể xử lý những xung đột hàng ngày trong việc nuôi dạy trẻ hay không? Vậy công việc nuôi dạy trẻ vẫn chính là cha mẹ. Không ai biết con cái bằng chính cha mẹ, giá trị của con cái đi cùng với giá trị của cha mẹ. Vì giữa trẻ thơ và người lớn có một nhịp cầu bắt ngang, nhịp cầu này cần phải được xây dựng vững chắc để cha mẹ có thể dìu dắt trẻ đi qua, hoặc chính trẻ cảm thấy thoải mái và hăm hở đi qua một cách dễ dàng, không gặp gì trở ngại. Nhịp cầu này là chính mối quan hệ tốt gi?a người cha với người mẹ, giữa cha mẹ với người con, ngay từ khi có ý định có con cho tới khi con nằm yên trong lòng đất. Chúa Giêsu nhắc cho cha mẹ vì lợi ích của con cái buộc cha mẹ phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly : "Ngay từ thuở ban đầu tạo dựng Thiên Chúa đã dựng nên một người nam và một người nữ. Bởi thế, đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình và khăng khít với vợ, và cả hai sẽ nên một thân xác. Cho nên họ không còn là hai mà là một thân xác (Mt. 19:3-5)

Decolores

Nữ tu Therese Miriam Vũ Lành Hải