VẤN ĐỀ ĐẠI KẾT KITÔ GIÁO

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Tâm

Đại kết là phong trào trong Giáo Hội nhằm hiệp nhất các Giáo Hội Kitô, nghĩa là các Giáo Hội tin theo Chúa Kitô và giáo huấn của Ngài. Ngay từ ban đầu, Chúa chỉ lập một Giáo Hội mà thôi. Nhưng qua thời gian, Giáo Hội Chúa bị chia năm xẻ bảy vì những yếu đuối của con người. Rạn nứt đã xảy ra từ ban đầu. Theo thời gian, xung khắc xảy ra đưa đến ly giáo, nhiều khi do lỗi của cả hai bên, chứ không phải chỉ người không Công Giáo phải gánh chịu tất cả trách nhiệm.

Việc hiệp nhất giữa các Kitô hữu đã được các người Tin Lành khởi xướng bởi vì không thể truyền giáo hữu hiệu nếu không có hiệp nhất với nhau. Công việc hiệp nhất bắt đầu trong thế kỷ 19. Từ đó, nhiều tổ chức được thành lập để phát triển vấn đề này. Nhưng quan trọng hơn hết là Hội Đồng Thế Giới của Các Giáo Hội (World Council Of Churches). Mặc dầu không phải là thành viên của hội đồng này, nhưng Giáo Hội Công Giáo cũng gửi đại diện tham dự các cuộc họp của tổ chức này.

Mãi cho đến Công Đồng Vatican II (1962-1965), Giáo Hội mới ban hành một văn kiện bàn về hiệp nhất các Kitô hữu, đó là sắc lệnh Unitatis Redingratio. Đây là sắc lệnh chính thức khởi động phong trào đại kết từ phía Công Giáo. Từ đó đến nay, Giáo Hội không ngừng hoạt động trong lãnh vực này.

I. Tại sao cần phải hiệp nhất?

Việc hiệp nhất giữa các Giáo Hội Kitô là điều cần thiết vì những lý do sau đây:

  1. Chính Chúa Giêsu muốn các môn đệ của mình được liên kết thành một. Sự hiệp nhất này được biểu lộ trong lời ước nguyện của Chúa Giêsu. Tin mừng Gioan 17:20-23 cho thấy điều này. "Xin cho tất cả nên một! Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ cũng được ở trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Gioan 17:21).
  2. Hiệp nhất là cốt lõi của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thật vậy, sự hiệp nhất của các Kitô hữu là hình ảnh và là dấu chỉ đến Thiên Chúa, vì Chúa là tình yêu. Mà tình yêu chỉ muốn kết hợp chứ không chia rẽ.
  3. Hiệp nhất cũng là cốt lõi của Giáo Hội. Bản chất của Giáo Hội là hợp thành một thân thể của Chúa Kitô, và niềm tin của Giáo Hội là là niềm tin vào một Chúa mà thôi.
  4. Hiệp nhất quan trọng cho việc truyền giáo. Tin Mừng nói về tình yêu. Tình yêu biểu lộ và đòi hỏi hiệp nhất. Nếu không hiệp nhất thì khó nói về tình yêu. Chính sự hiệp nhất làm chứng cho lời rao giảng của Giáo Hội.
  5. Hiệp nhất quan trọng để có uy tín mà cổ xúy hòa bình trên thế giới. Nếu Giáo Hội nói về hòa bình nhưng lại chia rẽ thì sứ điệp của Giáo Hội khó đem lại hiệu quả tích cực.

II. Làm sao để thực hiện đại kết?

Để thực hiện việc hiệp nhất với các Giáo Hội Kitô, Công Đồng Vatican II đưa ra một số nguyên tắc trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redingratio).

  1. Người Công Giáo cũng chia sẻ trách nhiệm với các anh em ly khai về sự chia rẽ đã xảy ra giữa các người Kitô hữu. Do đó người Công Giáo phải xin lỗi Chúa và các anh chị em Kitô hữu khác vì tội góp phần gây ra chia rẽ này. Người Công Giáo phải sẵn sàng tha thứ cho người Kitô hữu trong các Giáo Hội ly khai và không đổ lỗi cho những Kitô hữu hiện thời vì họ đã sinh ra và lớn lên trong các Giáo Hội này. Họ không cần phải gánh lấy trách nhiệm về lỗi lầm chia rẽ quá khứ mà cha ông họ đã góp phần tạo ra (UR#3).
  2. Bổn phận chính yếu của người Công Giáo là nỗ lực canh tân Giáo Hội để Giáo Hội có thể trung thành với ơn gọi của mình. "Các Kitô hữu phải nhớ rằng càng cố gắng sống theo Tin Mừng, họ càng cổ xúy cho tinh thần hiệp nhất và thực hiện hiệp nhất" (UR#7).
  3. Người Công Giáo phải nhớ là những ai đã chịu Bí Tích Rửa Tội và tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa và Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ thì có quyền mang danh hiệu Kitô hữu và là anh chị em của họ trong Chúa Kitô (UR#3). Như thế, Giáo Hội Công Giáo phải coi họ là anh chị em ly khai, chứ không phải là lạc giáo hay là ly giáo. 
  4. Các Kitô hữu trong các Giáo Hội ly khai có thể được cứu độ nhờ vào ân sủng của Chúa ban trong các Giáo Hội của họ. Tuy nhiên, chỉ có Giáo Hội Công giáo mới được ban cho trọn vẹn ân sủng và chân lý (UR#3).
  5. Người Công Giáo nên tìm hiểu học hỏi về nguồn gốc và những điều mà các Kitô hữu khác tin để hiểu họ hơn và dễ dàng gặp gỡ họ. Người Công Giáo có thể tham dự các nghi lễ của anh chị em ly khai, nhưng không được phép rước lễ, vì cách suy nghĩ và niềm tin vào Bí Tích Thánh Thể không giống nhau (UR#3).
  6. Khi thảo luận về các giáo thuyết của Giáo Hội Công Giáo với các anh chị em ly khai, người Công Giáo có bổn phận phải tránh cái kiểu hòa giải giả tạo làm mù mờ giáo thuyết của Giáo Hội. Giáo thuyết của Giáo Hội phải được trình bày sâu sắc và chính xác bằng cách thức và ngôn từ mà anh chị em ly khai có thể hiểu được (UR#11).
  7. Công Đồng cũng khuyến khích người Công Giáo hợp tác với các Kitô Hữu khác trong việc rao truyền đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi và Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người và là Đấng Cứu Độ nhân loại. 

III. Hoạt động thực tiễn cho đại kết

Theo lời mời gọi của Công Đồng, Giáo Hội đà dấn thân vào những hoạt động cụ thể cho vấn đề đại kết. Một trong những cử chỉ quan trọng của Giáo Hội là việc hòa giải giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo. Vì những lý do phức tạp, Giáo Hội Đông và Tây đã ra vạ tuyệt thông cho nhau vào năm 1054. Nhưng vào ngày 7/12/1965, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cùng với Thượng Phụ Athenagoras I của Constantinople chính thức xóa bỏ vạ tuyệt thông cho nhau.

Mới đây, Đức Thượng Phụ Bartholomew I hội kiến với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hai vị lãnh đạo tinh thần đã cùng ký vào bản tuyên ngôn chung nhằm xác định nỗ lực phát huy con đường đại kết qua việc đối thoại để hiểu nhau hơn.
Những hoạt động tương tự cũng diễn ra ở nhiều cấp bậc và hoàn cảnh khác nhau, ở các nước cũng như tại nước Úc này. Riêng tại Adelaide, cũng có những hoạt động thể hiện tinh thần đại kết. Chẳng hạn Interchurch Council, Ministers' Fraternal là những tổ chức nhằm qui tụ các giáo sĩ của các Giáo Hội Kitô với mục đích chia sẻ hỗ trợ và cầu nguyện cho nhau trong công việc mục vụ.

IV. Kết luận:

Vấn đề đại kết Kitô giáo là một phần quan trọng trong sinh hoạt của Giáo Hội. Công đồng Vatican II đã nêu lên vấn đề này và hiệu triệu mọi thành phần trong Giáo Hội tích cực góp phần kiến tạo con đường dẫn đến hiệp nhất giữa các người tin theo Chúa Kitô. Đây không phải chỉ là lời mời gọi mà còn là một mệnh lệnh vì hiệp nhất thuộc về bản chất của Giáo Hội. Giáo Hội đặt căn bản trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Chúa hiệp nhất trong ba Ngôi, thì Giáo Hội cũng phải hiệp nhất giữa các phần tử với nhau. Chúa Ba Ngôi là Tình Yêu. Giáo Hội rao giảng về Chúa và tình yêu. Do đó, nguyên tắc ngôn hành đồng nhất đòi buộc Giáo Hội phải thực hành những gì mình nói. Vì thế, mọi thành phần trong Giáo Hội luôn có bổn phận cầu nguyện cho hiệp nhất và hoạt động cho hiệp nhất trong các hoàn cảnh cụ thể và đa dạng của cuộc sống. Xin cho mọi Kitô hữu luôn ghi nhớ và thực hành ý nguyện của Thầy Chí Thánh Giêsu: "Xin cho chúng nên một".