XÓM CHÀI RA KHƠI

Ng. Th. Tu

Thật ra thì những người dân khu vực lân cận đó gọi xóm này là 'Xóm thuyền chài Họ Phêrô'. Lâu ngày thấy cái tên nghe có vẻ dài dòng văn tự nên được cắt ngắn lại cho tiện việc 'sổ sách' và để cho dễ gọi nên ai nấy đều gọi là 'xóm chài Phêrô'. Gọi là xóm vì có khỏang hơn 50 hộ gia đình thuyền chài ở dưới nước và cả trên bờ. Ở giữa xóm chài có một ngôi nhà thờ nhỏ lấy tên thánh Phêrô làm Thánh Quan thầy cho cả họ. Những người ở xóm chài lâu năm và ăn nên làm ra thì đã bắt đầu dời lên trên bờ, mua những miếng đất quanh nhà thờ, dựng những căn nhà đơn sơ chống mưa nắng làm nơi cư trú, trồng thêm vài luống rau, nuôi thêm vài con gà để thêm cặp và đắp đổi qua ngày, còn chiếc ghe vẫn được xử dụng làm kế sinh nhai chính yếu của gia đình. Những người ngư phủ nghèo không đủ khả năng 'lên cạn' đành phải bám trụ với chiếc ghe và cam chịu định cư trên những chiếc 'nhà nổi' này năm này qua năm khác trên sông nước. 

Xuất xứ của xóm chài Phêrô có tự bao giờ tôi chẳng biết. Tôi chỉ biết sau năm 75 khi gia đình tôi dọn về gần đó thì xóm chài đã có ở đó lâu rồi. Sau này tôi có mấy đứa bạn nhà ở gần xóm chài nên cũng thỉnh thoảng thả ra thăm bạn bè và ngắm giòng sông Đồng Nai hiền hòa lững lờ trôi. Có đôi lần tôi được mẹ sai ra xóm chài để chờ mua tôm cá tươi từ dưới ghe chài mang lên vì bà có dặn trước, còn thường thì các ngư sản được mang ra chợ để bán cho người tiêu thụ hay bạn hàng. Tôi thán phục khi nhìn các cô gái xóm chài đội những thúng cá trên đầu, hai tay đánh đồng gần đi thoăn thoắt ra chợ để kịp bán cá tươi mà thúng cá không chao đổ. Còn tài tình hơn nữa họ có thể chèo ghe bằng chân! Thật vậy, nhìn những cô gái dùng hai chân chèo thuyền một cách nhịp nhàng trên sông trông chẳng khác gì các cô đang xử dụng hai đôi tay nhuần nhuyễn vậy, - làm tôi thích thú lẫn kinh ngạc. Thế mới biết khả năng thích ứng và hòa nhập của con người trong môi trường cuộc sống thật là đa dạng. Có lẽ vì chèo thuyền bằng chân lâu ngày nên các cô gái xóm chài đều có tướng đi đầy dân tộc tính của dân Giao Chỉ. Trước ngày đi vượt biên, thằng bạn thân ở xóm chài thường chèo xuồng chở tôi đi thăm sông nước hữu tình dọc theo bờ sông, sang tận bên cù lao và xuôi dòng xuống tận Hiệp Hòa. Những lần như thế tôi thường nửa đùa nửa thật bảo nó:

- Cho quen dần sóng nước, lỡ tao có đi vượt biên thì không sợ say sóng!

Nó lắc đầu nhìn tôi cười:

- Sóng trong sông sao bằng sóng biển!

Mà thật, chiếc ghe nhỏ trôi bập bềnh trên sông nước rất an nhàn và bình yên xem chừng chả có gì nguy hiểm. Đầu óc 'người thành thị' của tôi lúc đó chỉ hình dung ra cảnh vượt biên nếu có dữ dằn lắm cũng gấp hai, gấp ba sóng nước trên sông là cùng. Ngồi đàng mũi ghe, tôi đưa tay khỏa nước trên sông tưởng như mình đã hoà nhập vào giòng sông, đã khám phá ra những bí ẩn, những uẩn khúc quanh co của con sông nhỏ. Tôi ngây thơ nghĩ rằng đi hết sông ra đến biển. Lòng của biển cũng hiền hòa êm ả như lòng con sông nhỏ quê tôi. Nhiều lúc cao hứng, tôi đã đứng trước mũi ghe, xoạc chân đứng nhìn hai bên tả ngạn, hữu ngạn con sông tưởng mình là một "Kha Luân Bố" đang đi tìm miền đất hứa vậy. Thằng bạn thân không hiểu trong đầu tôi đang nghĩ gì nhưng nhìn thấy nét mặt nghiêm túc và khẩn trương của tôi lúc đó đã phải phì cười. Nó đâu biết tôi đang thao dợt cho những ngày 'huấn nhục' trên sông để quen dần với sóng nước và dọn đường cho chuyến vượt biên của gia đình đang lo cho tôi. Nhiều lúc tôi muốn xì câu chuyện 'ra khơi' của tôi cho nó hay và có đôi lời từ biệt trước khi đi, nhưng cuối cùng thì tôi cũng tự chủ, nén lại không dám thổ lộ với nó về chuyến vượt biên vì gia đình đã dặn kỹ là không được hé môi cho ai biết. Nhiều hôm tôi ra nhà thằng bạn nhằm lúc nó mới đi cào lưới về. Nhìn mẻ lưới nó đi lưới thâu đêm đến sáng chỉ vỏn vẹn vài con cá mè nhỏ và hai ba con tôm càng xanh bằng hai ngón tay bán đi không đủ chạy gạo trong ngày để nuôi mẹ và ba đứa em nhỏ trong gia đình. Nó cười buồn bảo tôi "cái khó nó bó cái khôn" nhiều khi cũng toan tính chuyện này chuyện kia nhưng nhà nghèo lấy vốn liếng đâu ra làm ăn nên cũng đành bó tay. Còn nghề ngư phủ trên sông coi bộ càng ngày càng bết bát, sông nước bao la như thế mà tìm đỏ mắt cũng không thấy cái quẫy đuôi của cá trên mặt nước. Nguyên nhân cũng do một số người có óc 'tài tình sáng tạo' săn bắt cá theo lối phá hoại. Họ không biết hay không nghĩ đến việc bảo vệ môi sinh ngư nghiệp. Những người ngư phủ tham lam đã dùng điện gắn vào lưới cào để bắt cá. Tuy bắt được một số cá lớn nhưng chính họ cũng đã giết chết và phá hoại hằng hà bao nhiêu cá tôm nhỏ và những sinh vật khác trong nước khi dòng điện rà ngầm dưới đáy nước được gắn vào lưới cào. Dòng sông xưa lắm tôm nhiều cá bây giờ chỉ còn lại dòng nước đục với những nhánh củi mục và lục bình bập bềnh trôi.

Đã lâu lắm rồi tôi không có dịp về thăm quê hương - thăm lại thành phố mình đã sống một thời niên thiếu - thăm lại 'nhánh sông thân yêu ngày chưa biết buồn' - thăm lại xóm chài nhỏ ven bờ sông Đồng Nai. Qua thư từ và tin tức bên nhà gửi sang, tôi được biết xóm chài ngày xưa bây giờ đã thay hình đổi vóc và biến dạng nhiều. Nó viết cho tôi nếu có về thăm quê hương đến xóm chài nhớ kêu nó ra đón không thôi lạc lối. Vào thập niên 80, lúc phong trào vượt biên trên đà rầm rộ và ăn khách, những người ngư phủ thông thạo ghe thuyền, sông nước rất 'đắt mối' và được tuyển dụng ngay cho những chuyến vượt biên cần tài công lái tàu. Người dân chài họ Phêrô năm xưa giờ đã có con cháu, người thân vượt biên ra đi - lập nghiệp bên nước ngoài - gửi tiền về bên nhà để nuôi cha mẹ an dưỡng tuổi già. Họ không còn phải nhọc nhằn cả đêm để đi cào đi lưới cá nữa. Căn nhà thờ của họ Phêrô đã được xây dựng lại rất khang trang và đẹp đẽ do tiền của và công sức đóng góp hầu hết từ người ngoài nước gửi về. Dọc theo bờ sông bây giờ đã xuất hiện những quán café nhạc karaoke xập xình, xem bộ 'cái khó ló cái khôn' nhiều người có đầu óc làm ăn thương mại đã thay đổi cách sống và xoay vần theo cái thị hiếu và nhu cầu mới trong xã hội. Được thiên nhiên ưu đãi với cảnh trí nên thơ hữu tình bên bờ sông, các quán café đã trở nên chốn dập dìu tài tử và giai nhân. Họ đến đây hò hẹn và tụ tập như những tụ điểm ăn khách. Những gia đình khác không có thân nhân ở nước ngòai gửi 'đô' về cũng đã bỏ nghề chài lưới nghèo khổ trên sông. Những chiếc ghe thuyền đánh cá giờ đã thành những chiếc thuyền chở hàng đi buôn và làm nghề chuyên chở mướn, đi khắp các nẻo sông hồ trên quê hương. Những ngư phủ của xóm chài Phêrô đã ra khơi xa hơn, sâu hơn đến những nơi trong thâm tâm chưa bao giờ dám nghĩ đến. Sống cuộc đời chân chất đơn sơ và nghèo nàn, họ không bao giờ mơ về một chuyến hành trình xa xôi dù chỉ là một chuyến miên viễn trong tâm tưởng - về một nơi chốn vô định. Những chiếc ghe trước đây chỉ quen bến sông nhà chưa một lần đi xa sang bến bờ lạ giờ đã thay đổi hải trình. Có những chuyến hàng đi xa nhiều khi cả tuần mới về - miền sông rạch Hậu Giang nơi họ chưa một lần đặt chân tới. Thế hệ con cháu những ngư phủ họ Phêrô đã và đang làm cuộc cách mạng tư tưởng, dám xô ngã 'bức tường rêu phong' như cha ông họ đã bao năm chôn chặt đời mình với ngôi nhà thờ của họ đạo. Cha ông họ chỉ biết quanh quẩn kiếm sống bằng nghề đánh cá trên dòng sông nhỏ và mơ tưởng đi hết sông sẽ ra đến biển. Những lớp người ngư phủ trẻ thừa kế đã không chỉ mơ tưởng xuông mà đã vượt cả biển lớn Thái Bình Dương để đi tìm sự sống mới cho chính cuộc đời họ và tương lai con cháu.

Trong tâm tình loan báo Tin mừng bằng sự ra khơi của chính mình, tôi góp nhóp chút suy tư qua câu chuyện kể về xóm chài Phêrô. Ngày nào đó nếu tôi còn ung dung tự tại đời mình nơi cây đa cũ, nơi bến đò quen thuộc thì mẻ lưới tôi có cố công cật lực thâu đêm may ra cũng chỉ vớt vài con tép hay vài con cá 'lòng tong' nhỏ như những người ngư phủ xóm chài Phêrô. Giống như họ, tôi cần phải có thái độ thức tỉnh, xuống thuyền nhổ neo để đi xa hơn những bến bờ 'môi trường' tôi đã quá quen thuộc. Những mẻ cá lớn đang chờ tôi, tiếng gọi của trùng dương đầy hấp dẫn và cũng đầy phong ba bão tố đang rình rập chờ con thuyền ra khơi. Tôi có còn chút nhuệ khí nào để dám dong buồm ra khơi hay đã cùn nhụt theo năm tháng với cánh buồm rách tả tơi - không đủ sức bọc gió. Phúc cho những người ngư phủ xóm chài Phêrô vì sự can đảm ra khơi của họ năm xưa giờ đã mang lại một cuộc sống mới tốt đẹp và đầy đủ vật chất tiện nghi hơn cho họ. Riêng tôi, phúc cho tôi nếu tôi cũng biết bắt chước những người ngư phủ nghèo hèn đó ra khơi với một lý tưởng Thầy Chí Thánh đã ủy thác, chắc chắn phần thưởng lãnh nhận sẽ là một món quà vô giá không gì có thể so bì hay đánh đổi. Còn không thật bất hạnh và vô phúc cho tôi, ngày lại ngày chỉ quanh quẩn bên cây đa - bến sông cũ.

Thuyền viễn xứ - nhổ neo lên bờ.