LOAN BÁO TIN MỪNG BẰNG CHO ĐI
Tháng "cho đi"
Tháng 11 là một thời điểm quan trọng cho người công giáo, nhất là người công giáo Việt Nam.
Tháng 11, tháng "các linh hồn". Ngay từ thời gian đầu, Giáo Hội lữ hành đă hết ḷng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đă qua đời. Đây là việc làm lành thánh: "Nhưng nếu ông nghĩ đến phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đă an nghỉ trong tinh thần đạo đức, th́ đây quả là một ư nghĩ đạo đức và thánh thiện. Đó là lư do khiến ông xin dâng hy lễ đền tội cho những người đă chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi" (2 Mcb 12,45). Đây cũng là việc làm cụ thể trong tín điều "các thánh cùng thông công".
Người công giáo Việt Nam với truyền thống dân tộc nặng ḷng với tổ tiên ông bà cha mẹ, ngoài những ngày giỗ chính thức trong năm, th́ c̣n tưởng nhớ đến các cụ kéo dài suốt trong tháng này. Tưởng nhớ qua lời cầu nguyện và đặc biệt tưởng nhớ để học hỏi, noi gương các ngài. Gương các ngài là gương của một t́nh yêu mạnh hơn sự chết, một t́nh yêu vô bờ vô bến, sẵn sàng cho đi tất cả v́ con cái. Kho tàng văn chương Việt Nam tràn ngập h́nh ảnh của t́nh yêu vĩ đại này. Đại để như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". V́:
"Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày, thức đủ vừa năm" hay:
"Nuôi con cho được vuông tṛn,
Công cha dầu dăi, xương ṃn gối long", dù có biết:
"Mẹ nuôi con biển hồ lai láng,
Con nuôi mẹ tính tháng tính ngày"...
H́nh ảnh chị phó Thức trong tác phẩm "Anh phải sống" của Khái Hưng là h́nh ảnh cho đi tuyệt vời. "Thằng Ḅ! cái Nhớn! cái Bé!... Không... Anh phải sống!" Chị nói như vậy và đă tự nguyện ch́m xuống ḷng sông Nhị Hà cho chồng và các con được sống!
Tháng 11 cũng là tháng kính nhớ các thánh cha ông Tử Đạo Việt Nam anh hùng. Các ngài cũng đă cho đi tất cả: hy sinh vật chất vinh hoa phú quư, chấp nhận sự bất công và tra tấn hành hạ dă man, và nhất là dám cho đi chính cuộc sống ḿnh để Tin Mừng được loan báo tới mọi nơi mọi người: "Máu của các vị tử đạo đă trở nên hạt giống sinh ra những người tín hữu" (Tertullien) và "Trên mảnh đất đă gieo nhiều hạt giống đẫm máu, hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng cho Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng làm chứng nhân cho Chúa Kitô hơn là lúc b́nh sinh" (thỉnh cáo xin phong thánh các thánh TĐVN). Các ngài không những đă chấp nhận cái chết mà hơn nữa, theo như ư nguyện của chân phước Anrê Phú Yên, vị tử đạo đầu tiên: "Ước ǵ tôi có nhiều mạng sống để hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa". Ôi tuyệt vời! Đúng là hoa trái của một t́nh yêu chân thành:
"Sống yêu thương chính là cho tất cả,
Trên đời này không đ̣i trả công lao,
Không tính toán, không kể cho là bao,
V́ đă yêu, có khi nào tính toán".
Bài học này là bài học thật v́ do chính Thầy Chí Thánh chỉ dạy: "Không t́nh yêu nào cao quư hơn t́nh yêu của người hy sinh tính mạng cho người ḿnh yêu" (Ga 15,13). Việc làm này là việc làm chính đáng, v́ đă theo gương của Thầy Chí Thánh. V́ quá yêu, Thầy đă cho đi hết cả. Muốn ḥa ḿnh với nhân loại, Thầy đă tự nguyện hạ ḿnh xuống thế nghèo hèn để "trở nên giống phàm nhân" (Pl 2,7). Để cứu chuộc loài người, Thầy đă chọn con đường thập tự và cái chết thảm thương: "Người sẽ bị nộp cho dân ngoại, bị nhạo báng, nhục mạ, khạc nhổ. Sau khi đánh đ̣n, họ sẽ giết Người" (Lc 18,32). V́ muốn "ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế", Thầy đă lập bí tích Thánh Thể: "Này là ḿnh Thầy, sẽ bị trao nộp v́ các con" (Lc 22,19), Thầy cho đi chính bản thân ḿnh để làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn loài người.
Chính hành động phi tính toán, ngoài cân đo của Thầy đă tạo ra cả chuỗi những hành vi đầy ḷng quảng đại, từ thế hệ này qua thế hệ khác của biết bao đệ tử: những người muốn lấy t́nh yêu để đền đáp ân t́nh. Đó là những đệ tử chính tông, những vị thánh "đặc sản" Kitô giáo.
Một chứng nhân
Nhân lần giỗ thứ 31 của Đức cha Cassaigne (31.10.1973 - 2004), người được mệnh danh là "vị giám mục của người phong cùi", chúng ta cùng nh́n lại trước là để học hỏi tấm gương cho đi của ngài, sau là để ghi nhớ công ơn ngài đối với Giáo Hội Việt Nam.
Đức cha Jean Cassaigne sinh ngày 30.01.1895 tại Toi Urgons-Grenade nước Pháp, thụ phong Linh mục ngày 19.12.1925 thuộc Hội thừa sai Paris. Ngày 06.04.1926 ngài xung phong lên đường sang Đông Dương truyền giáo. Sau một tháng lênh đênh trên biển cả ngài mới cặp bến cảng Sài G̣n, và sau đó ngài được bổ nhiệm làm cha xứ Di Linh, một vùng đất c̣n hoang sơ của Cao nguyên Trung phần, nơi mà dân cư toàn là người dân tộc thiểu số với cuộc sống thiếu thốn khó khăn mọi bề. Giáo xứ của cha Cassaigne đầu tiên chỉ có 5 giáo dân gồm 3 người Việt, một "anh nuôi" và chú giúp việc. Đến với miền đất mới, cha Cassaigne tiếp cận ngay với người dân tộc bản địa và để có thể tṛ chuyện thân mật với họ, ngài tức tốc học tiếng. Lúc ấy tiếng dân tộc ở miền này chỉ mới là ngôn ngữ để nói chứ chưa có chữ viết. Ngài phải thường xuyên tiếp xúc, lần ṃ từ từ, và sáng tạo ra cách phiên âm, chẳng lâu sau đó ngài đă hiểu, nói thông thạo tiếng bản địa, và c̣n dịch được một số kinh, bài hát ra tiếng dân tộc.
Qua sự tận tâm tận lực của Ngài đối với những người nghèo, người phong cùi cùng với sự tác động của Thánh Thần, chiều ngày 7.12.1927 một người phong cùi trong cơn nguy tử đă xin Cha Cassaigne rửa tội. Ngài sung sướng thốt lên: "Đây là niềm vui vĩ đại đầu tiên từ sau ngày ḿnh được chịu chức và dâng lễ mở tay". Kể từ đó số giáo dân bắt đầu tăng lên, và cứ tăng dần theo thời gian. Bao lao nhọc, vất vả của "người gieo giống" nay đă tới mùa gặt hái...
Dù bận bịu trăm công ngh́n việc nhưng Cha Cassaigne vẫn dành nhiều thời gian để t́m đến với những người phong cùi. Họ bị thân nhân ruồng rẫy, xua đuổi vào chốn rừng sâu mặc cho bệnh tật, đói lạnh, có khi họ c̣n làm mồi cho thú rừng. T́nh yêu đă thôi thúc ngài lập làng cùi, những cḥi nhà sàn đơn sơ được dựng lên ở khu đất trống dưới chân đồi gần mé ruộng cách nhà xứ KaLa gần 1km. Có nhà rồi, ngài lại băng rừng, kiếm t́m và đưa họ về chung sống, để chăm sóc và chữa trị bệnh tật trước sự "ghê tởm" của nhiều người.
Các nữ tu giúp việc kể lại rằng: cha Cassaigne sống rất đơn sơ, nghèo khó, hễ ai biếu tặng ǵ ngài đều chia sẻ, phân phát cho người phong cùi mà không giữ riêng cho ḿnh bất cứ ǵ: từ thức ăn, thức uống, quần áo, thuốc men... Nhiều năm sống trong nghèo khó, bệnh tật; có những lần bệnh sốt rét hành hạ, ngài nằm li b́ cả tuần lễ không ăn uống ǵ, không hề phàn nàn hay kêu trách... Sức khỏe bị suy sụp mau lẹ, nhưng khi khỏe lại ngài lại t́m đến ngay với những người phong cùi, người nghèo ở khắp các buôn làng.
Ngày 24.06.1941, một sự kiện trọng đại đă đến với vị Cha hiền của người dân tộc và những người phong cùi: ngài được tấn phong Giám mục và là Giám quản Tông ṭa giáo phận Sài G̣n. Nhưng sau 14 năm, khi bước vào tuổi 60, ngài xin từ chức để nghỉ hưu và t́nh nguyện về lại Di Linh để phục vụ làng cùi. Tại sao ngài làm như vậy? Đơn giản thôi, v́ suốt 14 năm làm Giám quản một giáo phận lớn nhưng dường như tâm trí và trái tim của ngài phần lớn vẫn dành cho những bệnh nhân phong, những người bị ruồng bỏ nơi chốn rừng sâu hoang vắng trên cao nguyên Di Linh. Không thể diễn tả hết niềm vui của những người con cái sống tại làng cùi khi biết người cha hiền trở về để chung sống với họ trong tuổi già. Những tháng ngày " hưu dưỡng" do tuổi cao và bệnh tật, nên sức khỏe của ngài càng yếu dần, nhưng ngược lại t́nh yêu thương bao la của vị mục tử nhân lành lại càng triển nở, ngài chính là chỗ dựa vững chắc cho những mảnh đời bất hạnh, xấu số, bị bỏ rơi... Ngài c̣n là mẫu gương tuyệt vời của đời sống tận tuỵ hy sinh, quên ḿnh và cho đi tất cả để dẫn lối cho muôn người nhận ra ánh sáng của Tin Mừng. Hơn nửa cuộc đời ngài sống ở Việt Nam, phần lớn thời gian ấy ngài hiến thân ḿnh cho những người phong cùi của miền sơn cước Di Linh. Ngài hoàn tất sứ mạng ở tuổi 78, để lại bao niềm tiếc thương, cũng như để lại biết bao bông hoa Tin Mừng trong đời sống những người dân tộc thiểu số nghèo nàn, nhất là nơi những người phong cùi khốn khổ.
Hăy cho đi nhưng không
Vâng, đúng vậy, Thầy đă dạy: "Chúng con đă lănh nhận nhưng không, hăy cho đi nhưng không" (Mt 10,8).
Thánh Phaolô lại nhắc nhở thêm: "Anh em có ǵ mà đă không nhận lănh?" (1Cor 4,7) và "Đây không phải sức anh em, mà là một ân huệ của Chúa" (Ep 2, 3). Những câu Kinh Thánh trên đây là chân lư chân thật. Chân lư này giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn, giúp chúng ta biết nguồn gốc và đứng vào đúng vị trí của ḿnh.
Tiếp nối những chuỗi sự việc mà Thiên Chúa thấy "là tốt đẹp", chính Ngài đă cho con người được hiện diện với điều kiện ưu thế nhất, được thừa hưởng tất cả công tŕnh có trước. Ngài cũng sắp xếp ḥa điệu để con người tham gia vào chương tŕnh đón nhận ân sủng Ngài ban tặng. Đúng vậy, tự chúng ta là con số không. Tất cả những thứ chúng ta có đều là quà tặng của t́nh yêu, t́nh yêu của Thiên Chúa và t́nh yêu của những người Ngài gởi đến.
Riêng mỗi người chúng ta cũng đă được chọn gọi từ muôn thuở và ban ơn qua t́nh yêu của cha mẹ. Bắt đầu từ mầm sống trong cung ḷng mẹ, nơi ngôi nhà ấm cúng thầm kín đầu tiên đó, chúng ta đă được mẹ lấy máu thịt nuôi dưỡng lớn dần từng ngày... Bước vào cuộc đời bằng tiếng khóc như biểu tượng của sự yếu đuối và cần đến sự chăm sóc, nâng đỡ. Rồi ta lớn lên nhờ gịng sữa ngọt t́nh yêu, nhờ hơi ấm và bàn tay tận tụy nuôi nấng dẫn dắt. Tiếp nối là chuỗi những công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy cô giáo dục. Vào đời, ta cần t́nh yêu, cần t́nh bạn, cần sự cảm thông. Cuộc đời dệt nên bằng những ơn nghĩa nối tiếp nhau...
Nhất là sự sống thật là ơn ban cao cả nhất, thiêng liêng nhất mà Thiên Chúa đă thương ban. Không những Ngài tạo nên chúng ta với ơn gọi là con của Ngài, mà c̣n ban chính Con Một của Ngài chịu chết khổ nhục trên thập giá để cứu chuộc và ban cho chúng ta sự Sống Mới. Mỗi người nhận được một ơn gọi riêng, có một môi trường để cộng tác với Ngài trong công cuộc xây dựng và hoàn hảo thế giới bằng công tác loan báo Tin Mừng - Phúc Âm hóa thế giới. Để giúp ta chu toàn sứ mạng, Ngài lại ban cho những "nén bạc" để xử dụng và sinh lời.
Nhận thức được hồng ân Thiên Chúa là điều cần thiết, ta hăy để tâm t́nh biết ơn trở thành những hành động thiết thực trong toàn bộ cuộc sống ḿnh. Chỉ khi có tâm t́nh tạ ơn sâu đậm như thế, ta mới măn nguyện những ǵ đă lănh nhận, và bằng ḷng những ǵ ḿnh đang có hôm nay. Với tâm t́nh ấy, ta sẽ thấy ḿnh được bao bọc trong t́nh yêu Thiên Chúa. Chỉ khi biết ơn Thiên Chúa, ta mới dám cho đi trọn vẹn, dấn thân mạnh mẽ, không tính toán, không sợ mất mát để làm mọi sự nhằm đáp trả t́nh yêu. Đây là phương thế để trả ơn tốt nhất. Nhưng v́ mọi sự đều đến từ Thiên Chúa, nên Ngài chẳng cần ǵ cho chúng ta trả ơn, mà Ngài muốn chúng ta chuyển hướng đến cho anh chị em chung quanh.
Anh là người được ơn có trí tuệ minh mẫn và có điều kiện học hành thành đạt làm bác sĩ ư? Hăy tích cực trong môi trường y khoa của anh. Chị được ban điều kiện thuận lợi thành công trong việc buôn bán ư? Hăy tích cực trong môi trường kinh tế và việc bác ái. Em là người có được khả năng đặc biệt về văn chương lưu loát ư? Hăy tích cực trong môi trường truyền thông... Phong Trào đă mời gọi chúng ta từ những môi trường để thánh hóa những môi trường này, nhất là nơi những môi trường chuyên môn. Thời giờ, sức lực, của cải v. v. là hồng ân Chúa ban th́ hăy cho đi nhưng không để không là người con vô ơn. Đừng để ḷng tham thống trị cuộc đời. Tổ tiên ta đă cho biết ḷng tham con người là cái thùng không đáy. Nếu cứ miệt mài sinh lợi cho cá nhân, th́ không những tự làm khổ ḿnh phải luẩn quẩn trong cái ṿng danh lợi, mà c̣n đắc tội với t́nh yêu Thiên Chúa.
Tháng 11 đúng là tháng cho đi. Người ta nói rằng: "Chó gầy hổ mặt người nuôi". Để tránh điều này, cầu xin cho cuộc đời mỗi người thể hiện được khuôn mặt của Thầy Chí Thánh, được trở nên những bông hoa thơm thật sự:
"Hoa thơm, thơm lạ, thơm lừng,
Thơm cây, thơm rễ, người trồng cũng thơm".
Có như thế th́ mới mong Tin Mừng của Thầy lan rộng ra được.
Bản Tin tháng 11