LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI NGHÈO KHÓ

Chủ đề tháng này thật thích hợp với công việc bác ái của Mẹ Têrêxa, và nhân kỷ niệm 25 năm ngày Mẹ nhận giải thưởng Nobel Hòa Bình (10/12/79), Bản Tin xin được trích đoạn bài diễn văn của Mẹ thay cho bài chủ đề.

DIỄN VĂN MẸ TÊRÊXA NHẬN GIẢI NOBEL 1979 OSLO, NA UY

"Ngươi thấy không! Ta sẽ không quên ngươi. Ta đã ấp ủ ngươi trong lòng bàn tay Ta. Ta đã gọi tên ngươi. Ngươi thuộc về Ta. Ngươi rất quí giá đối với Ta. Ta yêu thương ngươi" (Isaia).

Khi chúng ta cùng qui tụ nơi đây để cảm tạ Thiên Chúa về Giải Nobel Hòa Bình, tôi nghĩ rằng sẽ thật hay nếu chúng ta cùng cầu nguyện bằng lời kinh của thánh Phanxicô Assisi, một lời kinh luôn làm tôi ngỡ ngàng. Chúng tôi vẫn đọc kinh này hằng ngày sau khi chịu lễ, vì kinh ấy rất phù hợp cho mỗi một chị em chúng tôi. Tôi lấy làm lạ vì cách đây 4, 5 trăm năm, khi thánh Phanxicô Assisi soạn lời kinh này, thì người ta vẫn đối diện với những khó khăn giống như chúng ta hiện nay, như chúng tôi soạn lời kinh rất phù hợp với chúng tôi. Tôi nghĩ rằng một số anh chị em đã nhận được kinh ấy rồi; vậy thì ta cùng cầu nguyện:

Ta hãy cảm tạ Thiên Chúa về cơ hội mà tất cả chúng ta có được ngày hôm nay, về quà tặng hòa bình này, một quà tặng nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta được tạo dựng để sống sự hòa bình đó, và cũng nhắc ta rằng Chúa Giêsu đã làm người để đem tin mừng ấy đến cho người nghèo. Tuy là Thiên Chúa, Ngài đã làm người trong mọi sự như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi, và công bố rõ ràng là Ngài đến để trao ban tin mừng. Tin mừng ấy chính là bình an cho mọi người thiện tâm và đấy là điều mà chúng ta mong muốn - bình an trong lòng. Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban con một mình - đấy là một ân ban: cứ như thể bảo rằng Chúa rất đớn đau khi phải cho đi như thế, vì Người yêu thương thế gian đến nỗi ban tặng người con của Người. Người tặng người con của mình cho Đức Trinh Nữ Maria, và Mẹ đã làm gì với người con ấy nào?

Ngay khi Ngài đi vào cuộc đời của Mẹ, Mẹ lập tức vội vàng đi trao tặng tin mừng đó, và khi Mẹ vừa bước vào nhà của bà chị họ, hài nhi - hài nhi trong lòng bà Êlisabét - nhảy mừng. Cậu ấy, thai nhi ấy, là sứ giả đầu tiên cho hòa bình. Cậu nhận ra Đấng Chúa Tể Hòa Bình, cậu nhận ra rằng Đức Kitô đã đến để đem tin mừng cho anh chị em và cho tôi. Và cứ như là chưa đủ - làm người thôi thì chưa đủ - Ngài phải chết trên thập giá để biểu lộ tình yêu cao vời hơn: Ngài đã chết cho anh chị em và cho tôi và cho người phung hủi kia và cho người đang chết đói kia và cho người trần truồng kia đang nằm ngoài đường phố, không chỉ tại Calcutta, nhưng còn tại Phi Châu, tại New York, tại London và Oslo; và Ngài tha thiết yêu cầu chúng ta yêu thương nhau như Ngài yêu thương mỗi một chúng ta. Chúng ta đọc điều này rõ ràng trong Phúc âm: "Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con; như Cha đã yêu thương Thầy". Chúa Cha tha thiết yêu thương Ngài, mà vẫn trao tặng Ngài cho chúng ta, và nếu chúng ta tha thiết yêu thương nhau, thì chúng ta cần phải trao ban cho nhau đến độ cảm thấy đớn đau. Nếu ta chỉ nói thế này thôi thì chưa đủ: "Tôi yêu mến Chúa nhưng không yêu thương người lân cận". Thánh Gioan bảo rằng bạn là một người nói dối nếu bạn bảo rằng bạn yêu mến Chúa mà lại không yêu thương người lân cận. Làm thế nào bạn có thể yêu mến Chúa mà bạn không thấy, nếu bạn không yêu thương người lân cận mà bạn nhìn thấy, mà bạn chạm đến, mà bạn chung sống? Vì thế, chúng ta nhất thiết phải ý thức rằng một tình yêu, nếu nó chân chính, thì sẽ làm cho chúng ta đớn đau. Chúa Giêsu đã đau đớn khi yêu thương chúng ta. Ngài đau lắm. Và để đảm bảo cho chúng ta ghi nhớ tình yêu vĩ đại đó, Ngài đã hóa mình thành bánh hằng sống để xóa tan cơn đói của chúng ta, đói tình yêu của Ngài - đói Thiên Chúa - vì chúng ta được dựng nên vì tình yêu đó. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Chúng ta được tạo dựng để yêu và được yêu, và Ngài đã mặc lấy xác phàm để cho chúng ta có thể yêu thương như Ngài yêu thương chúng ta. Ngài hóa mình thành kẻ đói khát, kẻ mình trần, kẻ không nhà, và Ngài bảo: "Con đã làm điều đó cho Thầy". Ngài đang đói tình yêu của chúng ta, đó là cái đói mà anh chị em và tôi cần phải nhìn thấy. Và cái đói đó có thể hiện diện ngay trong nhà mình.

Tôi không bao giờ quên được lần tôi đi thăm viếng một ngôi nhà mà người ta đón nhận các cha mẹ cao niên của những người con từng đưa họ vào trong một cơ sở xã hội rồi quên họ đi, có thể là như thế. Khi tôi đến đấy, tôi thấy trong nhà này có đủ mọi thứ, mọi thứ đẹp đẽ, nhưng ai ai cũng đều đưa mắt nhìn ra cửa. Tôi không thấy được một gương mặt nào nở lên nụ cười. Tôi quay sang người nữ tu mà hỏi: "Sao lại như vậy? Sao những người này có đủ mọi thứ mà cứ nhìn ra cửa vậy? Sao họ lại không tươi cười?" Tôi đã quen nhìn thấy nụ cười trên gương mặt những người dân tôi, ngay cả người hấp hối cũng mỉm cười. Và chị ấy trả lời: "Điều này xảy ra hầu như hằng ngày. Họ trông mong, họ hy vọng rằng một người con trai hay con gái của mình đến thăm. Họ đớn đau vì bị quên lãng." Và anh chị em thấy đó: đấy là nơi mà tình yêu đến. Sự nghèo khó đến ngay tại đây, ngay trong nhà anh chị em, đó chính là nơi mà ta đã hờ hững với tình yêu. Có thể ngay trong nhà anh chị em đang có một một ngưòi cảm thấy cô đơn, cảm thấy đau yếu, cảm thấy lo âu, và ai ai cũng gặp những ngày khốn khó. Chúng ta có mặt ở đó, chúng ta có mặt để tiếp họ, như người mẹ có mặt để đón con mình không?

... Những người nghèo là những người rất vĩ đại. Họ có thể dạy chúng ta rất nhiều điều tốt đẹp... Người nghèo là những con người tuyệt diệu. Một đêm kia chúng tôi ra ngoài đường đưa bốn người về. Một người trong số đó ở trong tình trạng rất tồi tệ. Tôi bảo các nữ tu: "Các con chăm sóc ba người kia, mẹ sẽ lo cho bà có vẻ nặng nhất này." Tôi đã chăm sóc bà với trọn vẹn yêu thương. Tôi đặt bà lên giường, và gương mặt bà nở một nụ cười thật đẹp. Bà nắm lấy tay tôi mà nói một tiếng duy nhất: "Cám ơn", rồi bà chết. Tôi không thể nào không xét lại lòng mình. Tôi tự hỏi: "Tôi sẽ làm gì nếu ở vào vị thế của bà ấy?" Câu trả lời của tôi thật đơn giản. Hẳn tôi sẽ cố gắng lôi kéo sự chú ý về bản thân mình. Hẳn là tôi sẽ nói: "Tôi đói quá, tôi đang chết, tôi lạnh, tôi đau", hay một điều gì tương tự như thế. Nhưng bà thì cho tôi rất nhiều hơn: bà cho tôi tình yêu đầy lòng biết ơn của bà. Và bà chết với nụ cười trên môi. Cũng giống như một ông kia mà chúng tôi đón về từ cống rãnh, ông bị giòi ăn hết nửa người, chúng tôi đưa ông về nhà mình. Ông nói: "Tôi đã sống như một con thú ngoài đường, nhưng tôi sắp chết như một thiên thần, vì đã được yêu thương và được quan tâm". Thật là kỳ diệu khi nhìn thấy sự cao cả của ông này, một người có thể nói như thế, có thể chết như thế mà không than van, không nguyền rủa bất cứ một ai, mà cũng chẳng so sánh bất cứ điều gì. Như một thiên thần. Đấy là điều cao cả nơi người dân của chúng tôi.

Và đó là lý do mà chúng tôi tin điều Chúa Giêsu đã nói: "Thầy đói, Thầy mình trần, Thầy không nhà, Thầy bị hất hủi, chê ghét, bỏ mặc; và các con đã làm điều ấy cho Thầy"

Tôi tin rằng chúng tôi không phải là những người hoạt động xã hội. Có thể chúng tôi đang làm việc xã hội dưới mắt người ta. Nhưng chúng tôi thực sự là những người chiêm niệm trong lòng thế giới. Vì chúng tôi chạm được hình hài của Chúa Kitô 24 giờ một ngày. Chúng tôi sống dưới sự hiện diện của Ngài 24 giờ; mà anh chị em và tôi cũng đều như vậy cả. Anh chị em phải cố gắng đem sự hiện diện ấy đến gia đình mình, vì gia đình nào cùng cầu nguyện với nhau thì cùng bền vững bên nhau... Tình yêu khởi sự từ gia đình. Vấn đề không phải là chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là chúng ta đặt bao nhiêu tình yêu vào việc mình làm. Chúng ta làm cho chính Thiên Chúa Tối Cao. Ta làm được bao nhiêu thì không quan trọng, bởi vì Người là vô cùng, nhưng quan trọng là ta đặt bao nhiêu tình yêu vào việc mình làm. Chúng ta làm cho Người được bao nhiêu trong những người mà ta đang phục vụ.

... Vì thế tôi đứng đây để nói với anh chị em: tôi mong rằng anh chị em bắt gặp những người nghèo ở đây, trước tiên là ngay tại gia đình mình. Và bắt đầu yêu thương từ nơi ấy. Hãy trở nên tin mừng cho người nhà của mình. Rồi đến gặp gỡ những người láng giềng ở sát vách. Anh chị em có biết họ là ai không?

Tôi đã có một kinh nghiệm lạ lùng với một gia đình theo Ấn Giáo có 8 con. Một ông nọ đến nhà chúng tôi và bảo: "Mẹ Têrêxa à, có một gia đình 8 con; họ không có gì ăn lâu rồi; Mẹ làm điều gì đi!" Thế là tôi lấy một ít gạo rồi lập tức đi đến đấy. Tôi thấy mấy em bé với cặp mắt ánh lên vì đói. Tôi không biết anh chị em có bao giờ thấy ai đói chưa. Tôi thì thấy nhiều lắm ở Ấn Độ. Bà cầm lấy gạo, chia ra hai phần, rồi đi ra ngoài. Khi bà trở về, tôi hỏi bà: "Bà đi đâu vậy? Làm gì vậy?" Bà đơn sơ trả lời: "Họ cũng đói". Điều làm tôi choáng váng nhất ấy là bà biết rằng những người kia là - là ai? là một gia đình Hồi Giáo - bà biết rõ. Tôi không đem thêm gạo tối hôm ấy vì tôi muốn để cho họ hưởng trọn niềm vui chia sẻ.

Và các con của bà cũng rạng ngời niềm vui, chúng chia sẻ niềm vui với mẹ mình vì bà có tình yêu thương để trao tặng. Anh chị em đã thấy đấy: nơi mà tình yêu khởi đầu chính là gia đình mình. 

... Vì thế, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì chúng ta đã có cơ hội này để quen biết nhau, và sự hiểu biết nhau đã đem chúng ta đến thật gần nhau. Chúng ta sẽ có thể giúp đỡ trẻ em trên toàn thế giới, vì như anh chị em biết, các nữ tu chúng tôi có mặt khắp nơi trên thế giới. Với giải thưởng mà tôi nhận như là giải hòa bình, tôi sẽ cố gắng tạo một tổ ấm gia đình cho nhiều người vô gia cư. Bởi vì tôi tin rằng tình yêu khởi sự từ gia đình, và nếu chúng ta có thể tạo một mái ấm cho người nghèo, tôi nghĩ rằng tình yêu càng ngày sẽ càng lan rộng. Và qua tình yêu thông cảm này, chúng ta có thể đem lại hòa bình, trở nên tin mừng cho người nghèo. Trước tiên người nghèo trong gia đình mình, rồi trên đất nước mình và trên thế giới.

... Một hôm tôi nhận được 15 USD từ một người từng nằm liệt giường hai mươi năm và phần thân thể duy nhất ông có thể cử động được là bàn tay phải của mình. Người bạn duy nhất của ông là điếu thuốc lá. Ông nói với tôi: "Tôi không hút thuốc trong một tuần, để gởi đến Mẹ số tiền này". Hẳn là một sự hy sinh kinh khủng đối với ông, nhưng hãy xem cách ông chia sẻ mới đẹp làm sao! Với số tiền ấy tôi đem bánh mì đến tặng những người đói với niềm vui cho cả hai bên. Ông đã trao tặng và người nghèo đón nhận. Đấy là điều mà anh chị em và tôi có thể làm. Quả là một ân huệ Chúa ban cho chúng ta ấy là chúng ta có khả năng chia sẻ tình yêu mình cho tha nhân. Hãy giữ khả năng chia sẻ tình yêu chúng ta cho người khác. Hãy làm như thể là ta làm cho Chúa Giêsu. Ta hãy yêu thương nhau như Ngài yêu thương chúng ta. Ta hãy yêu mến Ngài bằng một tình yêu trọn vẹn. Và niềm vui xuất phát từ việc yêu thương Ngài và yêu thương nhau, thì chúng ta hãy tặng nhau ngay bây giờ, khi mà lễ Giáng Sinh đã gần kề.

Ta hãy giữ niềm vui của Chúa Giêsu từ ái trong tâm hồn chúng ta, và chia sẻ niềm vui ấy với mọi người ta gặp gỡ. Chia sẻ niềm vui rạng rỡ ấy với mọi người ta gặp gỡ. Niềm vui rạng rỡ ấy thì có thật, vì chúng ta không lý gì mà không vui sướng khi chúng ta có Chúa Kitô ở với mình. Chúa Kitô ở trong lòng mình, Chúa Kitô ở trong người nghèo mà ta gặp, Chúa Ktô ở trong nụ cười mà ta trao và trong nụ cười mà ta nhận. Chúng ta hãy quyết tâm một điều, đó là làm sao để không còn một trẻ thơ nào bị loại bỏ, đồng thời chúng ta lúc nào cũng hãy gặp nhau với nụ cười, đặc biệt là khi khó mà mỉm cười được.

... Tôi nghĩ rằng có một điều khiến ta phải sống một cộc sống đẹp, ấy là chúng ta có Chúa Giêsu ở với mình và yêu thương mình. Giả như chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương mình, và chúng ta có cơ hội yêu thương nhau như Người yêu thương chúng ta, không phải trong việc lớn, nhưng trong việc nhỏ với một tình yêu lớn, thì Na Uy hẳn đã trở nên tổ ấm cho tình yêu. Và đẹp làm sao nếu từ nơi đây ta trao tặng (cho thế giới) một trung tâm hòa bình. Từ nơi đây, niềm vui cho mạng sống các thai nhi được nảy sinh. Nếu anh chị em trở nên một ánh sáng hòa bình cháy lên tong lòng thế giới, thì Giải Nobel Hòa Bình đích thực là một quà tặng của người dân Na Uy. Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em!

Bản Tin tháng 12