NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM XƯA VÀ NAY TRONG XĂ HỘI,
VÀ VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG

(Bài chia sẻ trong đại hội Ultreya, ngày 15 tháng 12 năm 2004)

Để t́m hiểu rơ vai tṛ của người phụ nữ trong Giáo Hội hôm nay, trước hết xin được mời quí anh chị trở về quá khứ để nh́n lại vai tṛ của người phụ nữ ngày xưa trong con mắt của xă hội và giáo hội. 

I- NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIA Đ̀NH, XĂ HỘI THỜI XƯA,
VÀ TRONG GIÁO HỘI TRƯỚC CÔNG ĐỒNG VATICANO II. 

1/- Người phụ nữ trong gia đ́nh và xă hội thời xưa:

Nói chung vai tṛ người phụ nữ vào thời xa xưa trên thế giới không được chú trọng và để ư đến, nếu không muốn nói là bị xem thường. Riêng xă hội VN của chúng ta bị ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh của Trung Hoa, nên số phận người phụ nữ hầu như bị xếp đặt, chôn chặt vào trong ṿng lễ giáo tam ṭng tứ đức. Ta thường nghe câu: "Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử". Nghĩa là khi c̣n nhỏ ở nhà phải phục tùng cha, lớn lên đi lấy chồng theo chồng phục tùng chồng, khi chồng qua đời th́ phải theo con, và sống như vậy cho đến măn kiếp, th́ mới gọi là tiết phụ. 

Với lối giáo dục một chiều và lỗi thời ngày xưa, th́ chỗ đứng của người phụ nữ là bếp núc, là đàng sau ngưỡng cửa của gia đ́nh, là nhiệm vụ sinh và nuôi dưỡng con cái. Thậm chí, người phụ nữ không có quyền lựa chọn người bạn trăm năm của ḿnh, nên có cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, bởi vậy mới có câu: "Làm thân con gái 12 bến nước, trong nhờ đục chịu". Lại có những gia đ́nh không muốn cho con gái đi học, v́ cha mẹ quan niệm con gái có đi học nhiều cũng vô tích sự. 

Người phụ nữ thời xa xưa, hầu như không có tiếng nói chính thức trong gia đ́nh và xă hội. Tuy nhiên, khi nh́n vào lịch sử của nhân loại nói chung, và lịch sử VN nói riêng, cũng không thiếu những trang anh thư, kỳ nữ như hai bà Trưng, Bà Triệu, như Cô Giang, như Bùi Thị Xuân v.v... khi gặp hồi quốc biến, phận nữ lưu cũng đứng lên phất cờ xông pha nơi trận mạc, đem vinh quang về cho đất nước không thua ǵ những đấng nam nhi. Ta hăy nghe 2 câu thơ trong bài Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca nói về hai bà Trưng:

Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

2/- Người phụ nữ thời xưa trong Giáo Hội và trước Công Đồng Vaticano II:

Chúng ta có thể nh́n thấy xă hội ngày xưa đối với người phụ nữ, qua việc Chúa làm phép lạ hóa ra nhiều cá và bánh. Theo Tin Mừng Thánh Mát-Thêu ghi lại rằng: "Những người ăn được bốn ngàn người, không kể đàn bà và trẻ con" (Mt, 16: 38), như vậy có nghĩa là họ chỉ nói đến đàn ông mà thôi. Khi đọc đến đoạn này chúng ta có cảm tưởng, h́nh như vào thời đó họ xem phụ nữ chỉ là những bóng mờ không hiện hữu, không đáng kể, nên không được liệt kê vào những người chứng kiến phép lạ Chúa làm!.. 

C̣n nữa, chúng ta hăy đọc qua 4 Tin Mừng về Câu chuyện người đàn bà ngoại t́nh, nếu chỉ nghe sơ qua ta cảm thấy người phụ nữ này có tội. Nghĩ xa hơn nữa, nếu đă ngoại t́nh th́ không thể nào chỉ có một người, nhưng người nam cùng phạm tội th́ không thấy nhắc tới. Họ đă bất công khi lên án chỉ một ḿnh người phụ nữ. Chính Chúa Giêsu vào thời này, Ngài cũng đă lên tiếng bênh vực những thành phần yếu kém trong xă hội, trong đó có phụ nữ. Riêng đối với Giáo Hội trước khi có Công Đồng Vaticanô II, thành phần giáo dân chỉ là những phần tử phải vâng lời và đóng góp, ngoài ra không có được một chỗ đứng nào trong Giáo Hội! Nhất là về phần người phụ nữ lại càng bị đối xử khác biệt, như không được bước lên Gian Cung Thánh, hay đọc sách thánh hoặc tham gia vào những công việc phụng vụ chung. 

II - NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM SAU THẾ CHIẾN THỨ II.

1/- Về phương diện xă hội:

Trong thế chiến thứ II, vai tṛ người phụ nữ trên thế giới được công nhận nhiều hơn. V́ nhu cầu chiến tranh người nam phải ra tiền tuyến, nên người phụ nữ có dịp bước ra khỏi ngưỡng của gia đ́nh sinh hoạt ngoài xă hội. Nhờ đó, tiếng nói của người phụ nữ được chú ư, họ có nhiều cơ hội làm những công việc mà từ trước đến giờ chỉ dành riêng cho nam giới. 

Riêng ở Việt nam nước ta, kể từ giai đoạn 1945 đến năm 1975, người phụ nữ đă đóng góp rất nhiều cho đất nước, tuy không bằng nam giới, nhưng họ có mặt trong mọi lănh vực từ người phụ nữ ở nông thôn tay cày tay cuốc, đến người phụ nữ ở thành thị hay trong quân đội đều tham gia trong các ngành nghề, họ c̣n là những chiến sĩ trong mọi quân binh chủng, có người c̣n là những người nữ quân nhân dám tung ḿnh ra giữa không trung với những cánh dù. 

2/- Về phương diện tôn giáo:

Người phụ nữ Công Giáo Việt Nam có một đức tin rất kiên trung và vững vàng. Trong chiến tranh khi chồng phải ra ngoài tiền tuyến chống giặc, ở hậu phương người phụ nữ trong gia đ́nh vừa làm cha, vừa làm mẹ nuôi dạy con cái trưởng thành. Chính những lời ru ngọt ngào, tấm gương sáng sống đạo của người mẹ, đă gieo hạt giống đức tin vào ḷng những đứa con. 

Sau ngày 30-4-1975, vai tṛ người phụ nữ Công Giáo nói riêng càng trổi vượt hơn nhiều nhờ vào đức tin, nhờ có niềm tin nên đă giúp qua được bao nhiêu khó khăn dồn dập. Có nhiều gia đ́nh khi người chồng bị giam cầm bắt bớ, người vợ với một đàn con thơ dại đă gạt nước mắt, một tay gồng gánh lo toan cho gia đ́nh, c̣n phải chắt chiu dành dụm để đi thăm chồng nơi các trại cải tạo, hay có những ḥan cảnh thương tâm chồng bị chết trong chiến tranh. 

Qua bao nhiêu đắng cay cơ cực, chúng ta mới thấy được ḷng đạo đức, sự hy sinh và sức chịu dựng vượt bực của người phụ nữ Việt Nam. Chúng ta hăy 4 câu thơ trong bài thơ "Cảm Xúc" của Thi Sĩ Hồ Dzếnh, một nhà thơ thời tiền chiến người Hoa Kiều nói về người phụ nữ Việt:

Cô gái Việt Nam ơi !
Nếu chữ hy sinh có ở đời,
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực,
Cho ḷng cô gái Việt Nam tươi.

III- NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM SAU NĂM 1975 Ở HẢI NGOẠI.

1/- Người phụ nữ trong bối cảnh gia đ́nh và xă hội

Sau năm 1975, làn sóng người bỏ nước ra đi t́m tự do đến định cư tại các quốc gia tây phương, người phụ nữ lại một lần nữa cùng với gia đ́nh phải khắc phục những khó khăn trong cuộc sống mới, nhất là những gia đ́nh với một đàn con dại thiếu vắng người cha, hay có những ḥan cảnh bi đát, mà chính bản thân người phụ nữ phải gánh chịu trên đường đi vượt biên. 

Tuy được xă hội và chính phủ giúp đỡ về vật chất tương đối đầy đủ, nhưng về tinh thần với hai nền văn hóa khác biệt, người phụ nữ cảm thấy hụt hẫng khi phải đối diện với những ḥan cảnh khó khăn. Tuy nhiên, với bản tánh cần cù nhẫn nại người phụ nữ Việt Nam đă lướt thắng được mọi nghịch cảnh, và c̣n có những chị đă thành công đỗ đạt trong các nghành nghề tại các quốc gia định cư. Người phụ nữ Việt Nam tuy bước một bước dài từ ngưỡng cửa gia đ́nh ra ngoài xă hội, nhưng bản chất vẫn c̣n rụt rè thiếu tự tin, ít có tinh thần cộng đồng làm việc chung với nhau, đây có lẽ là kết quả của một nền văn hóa khép kín, cũng như bị ảnh hưởng sau nhiều năm chiến tranh của đất nước.

IV- VAI TR̉ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI SAU CÔNG ĐỒNG VATICANO II.

1/- Vai tṛ người phụ nữ Công Giáo trong gia đ́nh:

Trong gia đ́nh Việt Nam người mẹ đóng một vai tṛ rất quan trọng, ngoài những công việc nội trợ hằng ngày, có chị c̣n phải lo làm việc để phụ vào kinh tế gia đ́nh. Ngoài ra người mẹ c̣n là gạch nối giữa các thành viên trong gia đ́nh, là vai tṛ ḥa giải khi có sự căng thẳng giữa người cha và con cái, những lời nói êm ái dịu ngọt của người mẹ sẽ giúp cho gia đ́nh trở nên một mái ấm yên vui. Gia đ́nh có sống đạo hay không, phần lớn cũng tùy thuộc vào người mẹ. Ông bà ta có câu: "Mưa dầm thấm lâu", lời nói êm dịu khuyên lơn của người mẹ ngày này qua ngày khác, th́ dù cho tấm ḷng chai đá thế nào rồi cũng sẽ có ngày hồi tâm hối cải. Thánh Nữ Monica là một thí dụ điển h́nh nhất cho người phụ nữ Công Giáo.

2/- Vai tṛ người phụ nữ trong Giáo Hội:

Công Đồng Vaticano II mở ra một hướng đi mới cho người giáo dân trong giáo hội, sau Công Đồng người giáo dân không c̣n là những phần tử thụ động, không chỉ giữ đạo mà phải sống đạo. V́ vậy, đem Tin Mừng đến cho mọi người không c̣n là việc làm dành riêng cho Linh mục Tu sĩ, mà cho tất cả mọi giáo dân sau khi lănh nhận Phép Rửa. Có lẽ lối giữ đạo thời xa xưa của người Công Giáo Việt Nam, vẫn c̣n ảnh hưởng nhiều trên một số người, với quan niệm tiêu cực giữ đạo trong gia đ́nh, trong khuôn viên Thánh Đường, cố gắng làm sao lo giữ các lẽ đạo, đi lễ Chúa Nhật mỗi tuần v.v... chăm lo phần rỗi cho ḿnh, và cho gia đ́nh ḿnh v́ sợ Chúa phạt sa Hỏa Ngục, c̣n phần người khác th́ mặc họ, câu nói: "Hồn ai nấy giữ" có lẽ đúng trong trường hợp này.

Nếu chúng ta giữ đạo như vậy, có lẽ chúng ta đă đi xa với những điều Chúa dạy. Đạo của Chúa không dẫn ta đi t́m ảo tưởng, mà rất thực tế chỉ tóm gọn có hai điều: "Thứ nhất là phụng thờ một Thiên Chúa, và kính mến Người trên hết mọi sự. Thứ hai là yêu tha nhân như yêu chính bản thân ḿnh". Kính mến thờ phụng Thiên Chúa th́ chúng ta đă và đang làm, c̣n thương yêu tha nhân như chính bản thân ḿnh, có lẽ chúng ta cũng có làm nhưng trong lời nói th́ nhiều, chứ chưa hẳn là đă thực hành, mà có khi chúng ta c̣n dùng lời nói của ḿnh để làm cho tha nhân đau ḷng nữa là đàng khác! 

Khi nh́n lại thực tế trong đời sống hàng ngày, chị em phụ nữ chúng ta lớn lên lập gia đ́nh sinh con cái, có những chị vừa đi làm về c̣n phải phần nội trợ, lại lo đến khi con cái trưởng thành lập gia đ́nh cho chúng. Cứ tưởng giờ đây ḿnh đă rảnh nợ có thể đóng góp phần của ḿnh cho giáo hội. Nhưng có ai ngờ lại đến lúc phải giữ cháu, hết cháu nội rồi đến cháu ngoại thế là đến măn đời! Tuy nhiên, không v́ thế mà chúng ta không có một khoảng thời gian nào để đóng góp công sức của ḿnh cho Chúa cho giáo hội. Nếu như chúng ta thật ḷng muốn làm, tự nhiên chúng ta có cách để thu xếp công việc, chẳng lẽ chúng ta mang danh là con Chúa, mà không thể dành riêng cho Chúa một khoảng thời gian nào trong cuộc sống dài mấy mươi năm, để đền đáp lại t́nh yêu thương của Người hay sao?

3/- Người phụ nữ loan báo Tin Mừng như thế nào?

Khi nói đến loan báo Tin Mừng, chúng ta thường hay liên tưởng đến phải đi giảng đạo th́ mới là loan báo Tin Mừng. Điều này chỉ mới đúng một phần, xin mời quư anh chị nghe lời của Đức Giáo Ḥang Phaolô Đệ VI nói với chúng ta: "Con người thời đại hôm nay không muốn nghe những thầy dạy, mà người ta nghe những nhân chứng, và nếu người ta có nghe các thầy dạy đi nữa là bởi v́ những thầy dạy đó đă là chứng nhân". Như vậy, loan báo Tin Mừng có nhiều cách, nhưng cách loan báo Tin Mừng bằng đời sống chứng nhân, bằng gương sáng là đẹp ḷng Chúa và hữu hiệu nhất.

Muốn hoán cải một con người, một môi trường, không phải là chuyện làm một ngày một bữa, có khi phải mất một thời gian rất lâu dài, cần có sự bền chí và kiên nhẫn. Nhưng điều trước tiên muốn hoán cải người khác chúng ta phải tự hoán cải bản thân ḿnh trước. Cầu nguyện chính là hơi thở của người tông đồ, sống với những điều ḿnh tin, thực hành những điều ḿnh nói mỗi ngày, nhờ vào cách sống của ta tự nhiên môi trường bị ảnh hưởng như "Men trong thúng bột". Đó là chúng ta đă loan báo Tin Mừng một cách thiết thực.

Loan báo Tin Mừng bằng cách sống của ta trong môi trường làm việc hằng ngày, tại cộng đồng nơi chúng ta đang sống, đoàn thể mà chúng ta đang sinh hoạt, công việc mà chúng ta được trao phó, chúng ta hăy làm tốt với lương tâm của một người tín hữu Công giáo, một người Cursillista môn đệ của Chúa. Nhất là quư anh chị Cursillistas nói chung, và quư chị nói riêng. Muốn loan báo Tin Mừng không ǵ bằng là dấn thân trong các công tác mà đoàn thể, phong trào cần đến chúng ta. 

Nói yêu người không phải chỉ yêu thương những người thân cận, những người đồng đạo, mà yêu thương tất cả mọi người, nhất là những người c̣n chưa nh́n biết Chúa. Bởi vậy, chẳng những riêng người phụ nữ mà c̣n cả nam giới, có nhiều công việc ngoài xă hội rất cần đến bàn tay góp sức của anh chị, nhờ vào sự hy sinh dấn thân, và những gương sáng mà chúng ta có được, sẽ làm cho người khác nhận ra h́nh ảnh rạng ngời của Thầy Chí Thánh. 

V- KẾT LUẬN.

Trong ngàn năm thứ ba này, Giáo Hội mời gọi mọi người hăy ra khơi và hăy ra xa hơn nữa, lời kêu gọi này vang vọng trong ḷng mỗi người tín hữu, đây là lúc chúng ta không c̣n phân biệt nam nữ, không c̣n khép kín trong phạm vi gia đ́nh, không c̣n khép kín trong khuôn khổ cộng đồng. Muốn người khác đón nhận Tin Mừng, ta phải t́m đến và giới thiệu Tin Mừng của Chúa cho họ, chúng ta không thể ngồi ở nhà, hay ở Thánh Đường để chờ họ đến xin chúng ta ban phát Tin Mừng.

Đây là lúc người phụ nữ Công Giáo cần mạnh dạn bước ra khỏi mặc cảm thua kém, lấy lại tinh thần tự tin của ḿnh, cần cho mọi người nh́n thấy ngoài thiên chức làm mẹ, làm người vợ trong gia đ́nh. Người phụ nữ c̣n có thể đóng góp nhiều việc cho giáo hội, cho xă hội. Dù biết rằng sống yêu thương phục vụ cho tha nhân là một điều khó, nhưng hiến tặng thời giờ phục vụ cho mục đích chung hay cho sự yên vui của người khác sẽ giúp ta loan báo Tin Mừng cách thiết thực và có hiệu quả. 

Hơn nữa, dù cho bao khó khăn trước mắt, người phụ nữ chúng ta không sợ, v́ đă có Mẹ Maria. Chúng ta nhất quyết noi gương Mẹ. Khi xưa Mẹ đă hết ḷng khiêm nhường trông cậy nơi Chúa, khi thưa hai tiếng "Xin Vâng". Hôm nay nếu chúng ta mạnh dạn phó thác, và hết ḷng trông cậy nơi Chúa và Mẹ, chắc chắn những việc làm của chúng ta sẽ được Chúa chúc phúc. Thân mến kính chào quí anh chị.

Maria- Đinh T Ngọc Dung.