Một vài cảm nghĩ về sự HỘI NHẬP

 

Xem xong tập Paris by Night 76 với chủ đề “Xuân Tha Hương” mới được phát hành trong những ngày chuẩn bị Tết làm tôi bồi hồi chi lạ. Những cảm xúc dâng cao. Những kỷ niệm ùa về. Những t́nh cảm nhớ thương đong đầy...
 

Chẳng phải tôi có ư quảng cáo cho trung tâm Thúy Nga, nhưng thành thực là tôi rất thích những chương tŕnh Paris by Night. Ngoài kỹ thuật cao, những chủ đề đưa ra hầu như đă “đánh trúng tâm lư” một người sống tha hương như tôi. Thưởng thức sự tŕnh diễn, tôi ḥa ḿnh được vào trong đó để cảm được nỗi ḷng của các tác giả, cũng như những nghệ sĩ tŕnh bày. Chương tŕnh đă đáp ứng một nhu cầu tinh thần của tôi, hay nói cách mạnh mẽ hơn, nó “nhập” vào được tâm hồn của tôi.
Nói đến “Cursillo trong tâm t́nh Việt”, cũng là t́m những cái “nhập” đó, xem coi Cursillo có “ăn nhậu” ǵ với tâm t́nh Việt hay chăng. Nhưng trước hết, có lẽ chúng ta cần nh́n qua về sự hội nhập. Hội nhập là một sự kiện gắn liền với đời sống con người, từ thể xác đến sinh hoạt ngoài xă hội, và ngay cả đến những vấn đề thuộc tâm linh.
 

Chúng ta thử nh́n một vài sự hội nhập cụ thể tiêu biểu:
 

1- Nhập thế, một hội nhập trong chương tŕnh cứu độ:
 

Khi Thầy Chí Thánh xuống thế trong sứ mạng cứu độ, Thầy đă hội nhập bằng con đường nhập thế. Để ḥa ḿnh với con người, từ địa vị Thiên Chúa tự hạ xuống làm người đă là một hành động xóa ḿnh không thể hiểu nổi. Thế mà khi xuống làm người, Thầy c̣n tiếp tục xóa ḿnh hơn nữa bằng cách hạ ḿnh đến mức tột cùng trong đời sống con người: sinh ra nghèo nàn trong một chuồng ḅ giá lạnh, làm con của một phụ nữ vô danh và con nuôi của bác thợ mộc nghèo nàn, tầm thường cả về mặt xă hội lẫn tôn giáo thời đó. Thầy lại tiếp tục cuộc sống lam lũ của người cha nuôi, cùng chia sẻ vui buồn sướng khổ với dân làng hàng xóm... Cuối cùng th́ chọn một cái chết vô cùng thảm thiết, nhục nhă, dường như cùng cực nhất: không một mảnh quần áo che thân và cùng chung số phận thập tự với hai tên trộm cướp!
Có đau mắt mới thương người mù. Có đói mới hiểu nỗi khổ của người không cơm. Thầy đă quá am tường tâm lư con người như câu ca dao Việt:
 

“Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời trọc phú có thương dân nghèo!”
 

2- Hội nhập trong Kinh Thánh
 

Nơi sách Sáng Thế trong Cựu Ước, người ta khám phá ra không phải chỉ có một truyền thống, mà ít là hai: truyền thống Giavít và Êlôít. Đặc biệt khi so sánh hai bản văn Kinh Thánh bằng tiếng Hípri và bản dịch ra tiếng Hy Lạp, th́ ta thấy các nhà dịch thuật đă cố gắng diễn dịch sao cho hợp với nền văn hóa nơi họ đang sống.
 

Trong Tân Ước, so sánh bản văn Tin Mừng của hai thánh Matthêu với Luca, chúng ta cũng thấy phản ảnh hai nền văn hóa khác nhau: một bên là Do Thái, một bên là Hy Lạp. Một bên là đạo Do Thái, một bên là dân ngoại. Thí dụ khi nói về Đức Giêsu, thánh Matthêu cần chứng minh cho người Do Thái tin rằng Người chính là con cháu nhà Đavít, nên đă viết gia phả của Người theo truyền thống Do Thái. C̣n thánh Luca thấy chuyện là con cháu nhà Đavít hay không cũng chẳng quan trọng với dân ngoại, nên viết gia phả Đức Giêsu theo một quan niệm thần học khác, đó là chứng minh Người là Con Thiên Chúa. Thánh Luca ít tŕnh bày những ǵ có đặc tính Do Thái, để Tin Mừng dễ được tiếp nhận hơn trong môi trường dân ngoại...
 

Ngày nay để hiểu Kinh Thánh rơ ràng hơn, chúng ta cũng cần đặt ḿnh trong vị thế của người thời xưa với các phong tục tập quán của họ. Các cụ ta ngày xưa đă nói: “Ở bầu th́ tṛn, ở ống th́ dài” là như vậy đó.
 

3- Hội nhập nơi Giáo Hội
 

Một việc khác cũng quan trọng không kém cần được nhắc đến, đó là hội nhập nơi Giáo Hội.
 

Giáo Hội sơ khai, sau khi rời bỏ Giêrusalem, đă từ từ giũ bỏ sắc thái Do Thái của ḿnh, sao cho chinh phục được nhiều người, cụ thể là Công Đồng Giêrusalem (Cv 15). Quả thật Giáo Hội đă sớm ư thức được rằng ḿnh phải là “Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp” (1Cor 9,20). Do đó, khi đến các vùng thuộc Hy Lạp, Giáo Hội đă nói và viết sách Tin Mừng bằng tiếng Hy Lạp. Rồi khi đến Rôma, Giáo Hội cũng đă sớm hội nhập vào nền văn hóa của dân Rôma. Về mặt nhân sự, v́ muốn cho Giáo Hội thực sự trở thành Giáo Hội của dân địa phương, các Tông Đồ và những người kế vị đă giao trách nhiệm quản trị Giáo Hội địa phương cho người bản xứ.
 

Đặc biệt sau này, nhờ Công Đồng Vatican II, một luồng gió mát đổi mới Giáo Hội trong nhiều lănh vực để giúp Giáo Hội đi vào ḷng thế giới. Cụ thể là việc xử dụng quốc ngữ làm ngôn ngữ trong Phụng Vụ. Vấn đề không chỉ có dịch một bản văn phụng vụ ra tiếng bản xứ, mà c̣n phải dịch sao cho đúng với ngữ pháp và tinh thần của ngôn ngữ đó. Cái ǵ cũng vậy, phải “trâu đồng nào ăn cỏ đồng đấy” hay “thuyền theo lái, gái theo chồng” th́ mới yên ổn.
 

4- Hội nhập nơi Giáo Hội Việt Nam
 

Các nhà truyền giáo ngày xưa cũng đă cố gắng hội nhập, làm sao cho Tin Mừng nhập thể vào trong dân tộc chúng ta, trong đó có cha Alexandre de Rhode, mà chúng ta gọi ngài bằng tên thân thương là Đắc Lộ.
 

Nếu khởi đầu lịch sử Giáo Hội Việt Nam, cha Đắc Lộ đă khéo vận dụng câu tục ngữ “Trời che đất chở” để tŕnh bày thích ứng với người dân vùng Cửa Bạng về một vị Chúa dựng lên trời đất, th́ chẳng bao lâu sau đó, từ những diễn tiến rất tự nhiên của một tiến tŕnh thăng tiến, cha đă t́m được một danh xưng thích đáng để gọi tên Thiên Chúa mà dân chúng rất dễ dàng chấp nhận, v́ nó đáp ứng đúng theo tâm t́nh của họ. Đó là danh xưng “Đức Chúa Trời”.
 

Khi rao giảng Tin Mừng cho người Việt Nam, nhiều nhà truyền giáo đă nhận xét: “Tại Việt Nam, một thuận lợi rất lớn cho công việc truyền giáo, đó là tinh thần đạo hiếu”. Thật vậy, đây là một truyền thống đáng ca ngợi của nền văn hóa Việt Nam, giúp cho xă hội có một nền gia phong tốt đẹp: biết ơn và kính trọng cha mẹ: “Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu”
 

Lợi dụng tinh thần này, cha Đắc Lộ lại đưa ra một ư niệm thần học để giới thiệu thêm cho người Việt Nam một người cha mà họ chưa biết tới, đó là Cha trên trời, Đấng đă sinh thành ra tất cả vũ trụ vạn vật, mà Đức Giêsu dạy ta gọi Ngài là Cha. Từ tinh thần này, người giáo dân Việt Nam có ḷng kính mến Thiên Chúa cách sâu xa.
Về mặt nổi, nơi các công tŕnh kiến trúc, nhiều nhà thờ với những cột kèo chạm trổ, sơn son thiếp vàng; với những bàn thờ, tượng ảnh và cả những cỗ kiệu đều mang sắc thái Việt Nam, nh́n vào rất gần gũi với tâm t́nh của ḿnh. Nhà thờ Phát Diệm là một h́nh ảnh đặc biệt vẫn c̣n tồn tại tới ngày nay.
 

Thế c̣n Cursillo đă ḥa nhập với tâm t́nh Việt như thế nào?
 

Những điều tổng quát đă được tŕnh bày trong bài chia sẻ tại buổi Ultryea kết thúc Đại Hội II 2005 tại Melbourne. Giờ đây chúng ta thử nh́n qua một giai đoạn của Cursillo. Đó là khóa Ba Ngày, một sinh hoạt nổi nhất của Phong Trào chúng ta hiện tại. Nổi tức mức độ có người lầm tưởng đó là toàn bộ Cursillo, mỗi năm mà không thấy mở khóa th́ nghĩ là sinh hoạt Phong Trào bị ngưng trệ!
Thực ra th́ khóa Ba Ngày với những diễn tiến hiện hành, đă có rất nhiều điểm đi sâu vào được với tâm t́nh Việt. Đến với khóa, chúng ta t́m thấy được những khát vọng sâu thẳm tận đáy tâm hồn và cảm thấy sự gần gũi. Đến với khóa, chúng ta như được dọn bữa với những món đặc sản dân tộc: canh cua rau đay với cà pháo mắm tôm, canh chua cá lóc, cá kho tộ...
 

Từ tấm ḷng hướng thượng sâu thẳm của dân tộc, người tín hữu Việt Nam có tinh thần đạo đức sâu xa, hết ḷng cậy trông và phó thác cuộc đời trong bàn tay Thiên Chúa. Đời sống nghèo khổ, chiến tranh, bị đàn áp đă giúp người Việt có sức chịu đựng kiên cường, cùng với truyền thống bất khuất của cha ông là các Thánh Tử Đạo, người giáo dân Việt Nam hiên ngang sống Đức Tin bằng con đường Thập Giá. Là một dân tộc có lễ phép trọng lễ nghi, nên những sinh hoạt tôn giáo rất sầm uất và khởi sắc: tham dự Thánh lễ, hội họp đọc kinh cầu nguyện, kiệu rước long trọng... Chẳng thế mà các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới thường được các vị Chủ chăn không tiếc lời khen ngợi và lấy làm gương sáng cho dân chúng địa phương.
 

Sẵn một ḷng đạo như vậy, đến với khóa Ba Ngày, người khóa sinh được bồi bổ, được xây dựng thêm ḷng đạo bằng lời kêu mời nh́n lại và đổi mới chính ḿnh. Nhiều khi có tham gia các việc đạo đức, nhưng vẫn c̣n cảm thấy xa cách; th́ Cursillo với những kỹ thuật riêng đă mở lối cho họ gặp gỡ được Chúa Kitô. Gặp Chúa Kitô để khám phá ra khuôn mặt, lời nói, cũng như những đ̣i hỏi của Ngài, và nhất là hưởng nhận t́nh yêu vô biên của Ngài. “Gặp gỡ Chúa Kitô, biến đổi cuộc đời ḿnh. Gặp gỡ Chúa Kitô, đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Chúa Kitô, chân thành ḿnh gặp ḿnh. Gặp gỡ Chúa Kitô, nay sinh t́nh đệ huynh” (cha Tiến Lộc) th́ rơ là Cursillo đă nhập vào được với tâm t́nh Việt rồi.
 

Trong khuôn khổ sống nặng t́nh gia đ́nh và sự liên đới của “người dân người làng” giữa lũy tre xanh, người Việt Nam có nhiều tinh thần phục vụ, giầu ḷng bác ái qua việc giúp đỡ lẫn nhau, đổi công đổi việc cho nhau.
 

Từ t́nh gia đ́nh “máu chảy ruột mềm” phải yêu thương đùm bọc, người Việt c̣n tiến xa hơn “thương người như thể thương thân” và không những chỉ cho đồng bào ḿnh:
 

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
 

Người trong một nước phải thương nhau cùng”, mà c̣n khắp cả thiên hạ:
 

“Bầu ơi thương lấy bí cùng,
 

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Đây là tinh thần “Lá lành đùm lá rách” cao quư của người Việt. Tinh thần này đă được thể hiện trong các cuộc lạc quyên bác ái, cụ thể sau biến cố sóng thần kinh hoàng vừa qua: Cộng đồng người Việt tại Úc qua hai buổi Radiothon đă hứa tặng hơn 600 ngàn đô, chiếm gần 50% tổng số cuộc quyên góp của các sắc tộc trong hệ thống truyền thanh SBS. Song song đó, Cộng Đồng Công Giáo Sydney trong một cuối tuần đă quyên góp ngay được $124,309.00. Đó là chưa kể đến rất nhiều những cuộc lạc quyên khác.
 

Với tâm t́nh này, người khóa sinh bắt được ngay tần số phục vụ của các trợ tá. Đó cũng là một yếu tố khá mạnh đánh động tâm hồn hầu hết các khóa sinh.
 

Qua công việc quyên góp ở trên, một phần cũng biểu lộ tinh thần nhớ ơn: Dù chỉ dừng chân ở trại tỵ nạn Nam Dương, Thái Lan, Mă Lai một thời gian ngắn ngủi, nhưng chúng ta vẫn không quên ơn nghĩa này: “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Do ḷng biết ơn, người Cursillisista muốn trả nghĩa khóa học bằng việc hăng say đi trợ tá. Nhiều khi sự trả nghĩa này mạnh mẽ quá lại thiếu sự hiểu biết, đă vô t́nh thay đổi đối tượng của khóa: thay v́ là môi trường th́ lại là cursillista. Có người coi trợ tá là nhu cầu của cursillista, muốn thúc đẩy mở khóa thường xuyên v́ sợ bị nguội lạnh!
 

Người Việt có tính hiếu khách cởi mở, niềm nở trong cách cư xử, thích cảnh náo nhiệt của những ngày lễ hội. Các cộng đoàn Việt cũng thích chưng dọn trang trí nhà thờ, những chỗ cử hành lễ nghi. Đặc biệt những dịp lễ lớn, thích chưng bày hoa nến, cờ quạt... Sẵn sàng bỏ nhiều công sức, mà không sợ hao tốn tiền của, thời giờ. Chắc ít cộng đoàn sắc tộc nào có hệ thống ca đoàn lớn nhỏ để phục vụ các dịp lễ cho long trọng như cộng đoàn chúng ta. Từ đó, những sinh hoạt của khóa cũng đă lôi kéo được sự nhiệt t́nh không những các trợ tá mà c̣n cả các khóa sinh.
Nh́n chung như vậy, cái “tâm t́nh Việt” phải kể được thêm là một trong những yếu tố đă giúp khóa học được thành công. Điều đó chứng minh có sự hội nhập hai chiều cả từ Cursillo lẫn tâm t́nh Việt. Điều quan trọng ở đây là làm sao những giai đoạn khác của Cursillo cũng đạt được sự hội nhập chung như khóa Ba Ngày. Làm sao để tinh thần của khóa cũng là tinh thần của Hậu Cursillo. Đó là lư do tại sao Phong Trào lại gọi Hậu Cursillo là Ngày thứ Tư. Có cả ba giai đoạn th́ mới đủ làm thành Cursillo.
 

Phong Trào như những đợt sóng lên xuống thích hợp cho cảm quan mỗi thời đại và hoàn cảnh sống. Ai cũng hiểu chẳng có ǵ là muôn thuở, mà cần phải thay đổi cho thích hợp với thực tế. Khóa Ba Ngày cũng vậy, nhưng điều này dẫu sao cũng cần phải từ từ, đúng nơi, đúng lúc. Dẫu muốn thay đổi, cũng phải giữ được sự rung cảm trong ḍng máu người Việt. Cái “tâm t́nh Việt” trong các sinh hoạt Phong Trào không phải là những cái bày vẽ ra cho thêm hoa ḥe hoa sói, nhưng là điều cần thiết để người Việt có thể cảm được, có thể thực sự “nhập” vào được. Thí dụ trong giai đoạn hiện tại, liệu chúng ta có thể đơn giản khóa học theo như chương tŕnh của Úc được chưa? Cá nhân tôi vẫn thường băn khoăn: nếu tổ chức một bữa tiệc đăi khách Việt, mà dọn ra toàn những khoai tây chiên, pizza, spagetty... th́ liệu có hợp khẩu và đúng cách hay không? Tôi thường nghĩ, cho dẫu chúng ta sống tha hương khắp nơi trên thế giới, nhưng trước sau ǵ cũng vẫn nhận ra ḿnh là người da vàng, mũi tẹt, tóc đen...
 

Tôi thấy thật vui trước chia sẻ cởi mở của Cha tuyên úy trưởng cộng đồng Sydney Nguyễn Khoa Toàn, một Linh Mục đă sinh hoạt lâu năm với Úc và mới về phục vụ cộng đồng Việt: “Với tôi, chỉ một năm trước đây, xem lễ tiếng Anh cũng chẳng khác ǵ tiếng Việt. Cũng hát. Cũng đọc. Cũng ngồi xuống, đứng lên. Nhưng khác lắm, khác đến vô cùng! Khác như trắng với đen, như đêm với ngày... Chỉ có thể hiểu được khi sống với. Chỉ có thể biết được khi quyện vào. Và tạ ơn Chúa. Muộn c̣n hơn không, giờ nay tôi đă hiểu và nhận chân được điều này” (Niềm Tin số 1029, 30/01/05).
 

Giờ đây chúng ta đang bước sang năm mới, năm Ất Dậu, năm con gà. Con gà trống đầy mầu sắc oai phong cũng là một h́nh ảnh rất quen thuộc trong sinh hoạt của Phong Trào. Con gà trống cũng thật gần gũi với người Việt trong những ngày Tết: thực phẩm ngon miệng, hội đá gà, chơi vui lắc bầu cua thử thời vận... Xem ra năm con gà quả là năm thích hợp cho chúng ta t́m cách cho toàn bộ Cursillo hội nhập được với tâm t́nh Việt. Cầu xin cho vi khuẩn H5N1 không xâm nhập vào được con gà của chúng ta.
 

Tom