NGỌN
SÓNG TẠ ƠN
Kính dâng Mẹ Việt Nam,
kỷ niệm 30 năm xa Mẹ (1975-2005)
Ngày 1 tháng 4 năm 1946, b́nh minh vừa ló rạng, dân chúng Honolulu cũng vừa thức giấc, sau một đêm dài ngơi nghỉ, th́ một tin đồn được truyền tai nhau, lan dần và không mấy chốc toàn đảo đều nhốn nháo: “Biển có sự lạ...” Họ hối hả đi xem: Mặt biển như thấp hẳn xuống, nước rút đi thật xa. Một băi cát trống trơn, trải dài tới tận ngoài khơi. Nhiều con cá mắc cạn, phơi ḿnh trên ḷng biển khô cạn... Khoảng 7 giờ sáng, những tiếng ầm ầm như sấm nổ, từ ngoài khơi vọng vào. Mọi người ngơ ngác nh́n nhau, chưa hiểu việc ǵ, th́... một con sóng ào ào tiến vào bờ. Càng tới gần, càng vươn lên cao ngút. Mọi người kinh hăi, vội vă trở lại bờ, nhưng đă quá muộn! Cột sóng thần cao 15m chồm lên đất liền, quét gần 200 người, cùng nhiều súc vật và nhà cửa ra biển.
Sự kiện này cũng đă xẩy ra vào sáng ngày 26/12/2004, tại các miền ở vùng vịnh Ấn Độ dương, quần đảo Nam dương, và bờ Đông của Lục địa Phi Châu. Trong những giây phút không ngờ của buổi ban mai, một cột sóng khổng lồ từ ngoài khơi đă đổ xuống đất liền với tốc độ 8.9. Chỉ mươi phút, sóng thần Tsunami đă kéo ra biển cùng với hàng trăm ngàn người và hàng ngàn, hàng ngàn căn nhà cùng của cải vật chất. Rồi để lại trên mặt đất những băi hoang tàn, những xác chết ĺnh x́nh, thật thảm hại. Sóng thần Tsunami đă xẩy ra vào cuối năm 2004, để lại một vết thương khổng lồ cho nhân loại vào đầu năm dương lịch 2005, c̣n tiếp nối sang năm Ất Dậu của chúng ta. Đó là ngọn sóng hồi tưởng cho mọi người Việt Nam. Chúng ta cần nhớ lại biến cố đau thương tháng tư đen tối năm 1975 của dân tộc. Sóng thần Cộng Sản đă kéo ra biển khơi hàng triệu triệu người đi t́m một vùng đất mới giữa đại dương, phải bỏ lại tất cả nhà cửa, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên, và tất cả những cơ nghiệp đă gây dựng từ đời tiên tổ.
Bước vào năm thứ 30 sau biến cố ấy, nh́n lại cuộc sống hiện tại nơi xứ người, phần đông chúng ta đă có tất cả những ǵ mà trước đây không bao giờ dám mơ ước. Đa số chúng ta đă có công ăn việc làm, nhà cao cửa rộng, xe năm bảy chiếc, con cái khôn lớn thành đạt gấp nhiều lần trước đây khi c̣n tại quê nhà. Rất nhiều người đă thành công trên mọi lănh vực học vấn, kinh doanh, giáo dục, khoa học, kỹ thuật không kém ǵ các dân tộc khác.
Nhưng chúng ta có c̣n nhớ đến ngày đầu tiên đặt chân trên đất Úc để tạ ơn Thiên Chúa, đồng thời cám ơn những vị ân nhân đă giúp đỡ ḿnh trong những ngày đầu tiên bỡ ngỡ tại miền đất lạ. Nếu có người nào nghĩ rằng họ không mang ơn ai, đặc biệt với Thiên Chúa th́ đó là một lỗi lầm lớn, v́ đời sống con người đều có những ràng buộc liên đới chập chùng. Con người không thể sống cô độc một ḿnh như một ốc đảo giữa sa mạc mênh mông hay một con ṣ vật vờ với thủy triều vỗ đập tháng ngày. Trái lại con người phải sống với người khác, v́ người khác và cho người khác trong một tổ chức hay trong một xă hội lớn nhỏ, trong một không gian và thời gian nhất định. Trong cuộc sống, chúng ta thường chẳng cho đi bao nhiêu nhưng đă nhận lănh quá nhiều. Nếu một ngày nào đó, đời ta không c̣n nhận được những yêu thương, những giúp đỡ, những sự cộng tác, những đóng góp của bao người khác, lập tức ta sẽ trở thành bơ vơ, nghèo nàn, khốn khổ biết bao. Từ vật chất đến tinh thần, cuộc đời mỗi người đều được xây dựng bằng biết bao công ơn của nhiều người, nhất là bao hồng ân và sự quan pḥng huyền nhiệm của Thiên Chúa.
Francois Voltaire (1694-1778), một tác giả kiêm triết gia người Pháp đă từng viết: “Con người là một sinh vật mang tính xă hội. Do đó ai tuyệt đối sống cô độc một ḿnh, người đó dần dần sẽ mất hết bản chất con người, đồng thời đánh mất luôn khả năng tư tưởng và diễn tả”. Qua tư tưởng triết lư này, các nhà xă hội học đều đồng ư rằng: Con người sống là sống với người khác. Và khi giao tiếp với người khác, một trong những tâm t́nh cao quư nhất mà bất cứ ai trong chúng ta cũng quư mến trân trọng: Đó là tâm t́nh biết ơn.
Biết ơn là bộc lộ tâm t́nh tri ân với vị ân nhân về những điều tốt lành mà ḿnh đă lănh nhận. Những điều tốt lành ấy gồm nhiều h́nh thức: một lời khích lệ, một cử chỉ thân ái, một món quà tặng, một hành động nâng đỡ tinh thần hay vật chất, một hồng ân của Thiên Chúa. Mỗi tặng vật luôn gói ghém một ư nghĩa và giá trị tinh thần. Nó là biểu tượng của T́nh thương. Nó mang ư nghĩa cao đẹp của sự cho đi phần nào chính bản thân của người tặng. Thông thường những tâm t́nh biết ơn được thể hiện qua ngôn ngữ, cử chỉ và hành động. Biết ơn là một thái độ văn minh cao quư chứng tỏ con người có giáo dục. Biết ơn là một cử chỉ lịch thiệp thể hiện sự kính trọng người khác, đặc biệt người ấy lại là vị ân nhân của ḿnh. Vị ân nhân có khi không cần người thụ ân cám ơn, nhưng bổn phận người mang ơn luôn luôn phải bày tỏ ḷng biết ơn. Đó là quy luật và nguyên tắc xử thế trong cuộc sống. Trái lại, không ǵ xấu hổ và đáng chê trách bằng thái độ vô ơn của những người không có giáo dục, chỉ biết nh́n cái lợi trước mắt mà quên nhiệm vụ tri ân của ḿnh. Tiền bạc, quà tặng, chúng ta có thể trả ṣng phẳng. Nhưng những ân t́nh thương mến làm sao có thể đáp đền. Những mồ hôi nước mắt, những tận tâm công lao của bao người, mà chúng ta chia sẻ cho nhau, đều là những tặng vật thiêng liêng cao quư.
Với tâm t́nh biết ơn, chúng ta hăy hướng ḷng về Quê Hương ngàn trùng xa cách, nơi có hơn 80 triệu đồng bào ruột thịt đang sống trong ṿng tay của Mẹ Việt Nam, để nói lên lời tri ân chân thành với các vị Tiền Nhân Anh Hùng đă có công dựng nước và giữ nước. Với các bậc tổ tiên, với các bậc cha mẹ c̣n sống hay quá cố, đă có công sinh thành dưỡng dục chúng ta. Với các thày cô đă dày công giáo huấn chúng ta nên người, nhờ đó chúng ta mới có ngày hôm nay.
Chúng ta cũng hăy thành kính
dâng lên Mẹ Việt Nam những tâm t́nh ngưỡng
mộ tri ân. Quê hương
Mẹ Việt Nam được h́nh thành là nhờ bao công
lao của biết bao thế hệ anh hùng quả cảm,
đă vào sinh ra tử, bảo vệ giang sơn gấm vóc
để lại cho con cháu là chính chúng ta.
Họ chính là những người đă viết lên
những trang sử oai hùng của Quê Hương Việt
Nam.
Chúng ta hăy dâng lên Thiên Chúa những lời tri ân v́ đă cho chúng ta sinh ra là người Việt Nam, được làm công dân của một đất nước luôn trân trọng luân thường đạo lư Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, luôn quư mến những giá trị tinh thần và gia đ́nh truyền thống hơn những lợi lộc vật chất, luôn biết chết vinh hơn sống nhục, luôn đề cao t́nh tương thân tương trợ của nghĩa đồng bào ruột thịt. “Thiên Chúa yêu thương chúng ta”, phải chăng đó chính là điệp khúc mà mỗi người chúng ta hăy lập lại trong từng giây phút của cuộc sống, nhất là khi nh́n lại bao hồng ân Ngài ban. Mỗi người chúng ta đều có một chương tŕnh đặc biệt trong sự quan pḥng kỳ diệu của Ngài. Đối với Ngài, không có đám đông vô danh, chúng ta không biến thành những con số vô nghĩa. Ngài gọi mỗi người bằng một tên gọi riêng. Mỗi người đều có một giá trị đặc biệt không thể thay thế được đối với chương tŕnh huyền nhiệm của Ngài. Chúng ta cũng không thể nào đo lường T́nh Thương Bao La của Ngài bằng thước đo hẹp ḥi của trí óc bé nhỏ của chúng ta.
Thiên Chúa cũng không tạo dựng con người theo một khuôn mẫu chung chung như những cơ phận trong một cỗ máy, được sản xuất theo hệ thống giây chuyền, mà theo một chương tŕnh đặc biệt riêng cho mỗi người. Mọi biến cố vui buồn lớn nhỏ đều được Ngài xử dụng để mang lại thiện hảo cho đời ta. Tất cả đều mang Dấu Ấn T́nh Yêu của Thiên Chúa. Tất cả đều là hồng ân của Ngài.
Kính mời quư độc giả hăy dành một giây phút, nh́n về Quê hương Việt Nam, bao nhiêu đồng bào ruột thịt đang sống trong thiếu thốn, biết bao nhiêu mảnh đời bất hạnh, bao nhiêu tấm thân tàn phế của thương phế binh. Họ đang sống vất vưởng trên vỉa hè phố chợ, dùng những phần c̣n lại của thân xác để ăn xin một chút t́nh nhân loại. Nh́n về đó để dâng lên Thiên Chúa tâm t́nh biết ơn. Nh́n về đó để cúi đầu tri ân.
Nữ tu Therese Miriam Vũ Lành
Hải, CMR