HOÀI NIỆM QUÊ HƯƠNG
 

Ba mươi năm xa quê hương, một quăng thời gian dài, gần bằng một phần ba thế kỷ, mà tưởng chừng như mới vài năm qua. Quá khứ của một kỷ niệm đau thương mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu, được đánh dấu bằng khúc quanh của lịch sử dân tộc: Ngày 30 tháng 4 năm 75. Ngày mà miền nam rơi vào tay cộng sản. Biến cố đó đă không thể nào phai nḥa trong trí nhớ của hơn hai triệu người Viêt Nam đang có mặt trên khắp thế giới. Nhưng, nếu tính cả thời gian của cuộc di cư vĩ đại, của gần một triệu người dân miền bắc, phải bỏ xứ ra đi vào miền nam, sau Hiệp định Genève, chia đôi đất nước ngày 20 tháng 7 năm 54, th́ đă có biết bao kỷ niệm vui buồn sướng khổ trong suốt 51 năm của một đời người...
 

"Tôi xa Hà nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu...." Lời ca mở đầu của bản nhạc "Nỗi ḷng người đi" mà tôi thường hay hát sau những tháng ngày di cư năm 1954. Tuổi mười tám, qủa đúng là tuổi tôi vừa biết yêu. Nhưng, không phải là chuyện t́nh yêu của đôi trai gái. Tôi đă yêu, yêu hồ Hoàn-Kiếm với cầu Thê-Húc, hồ Trúc-Bạch, chùa Một Cột, Tôi yêu tiếng chuông leng keng của tàu điện chạy trong thành phố vào những giờ sớm tinh mơ. Tôi yêu Nhà thờ cổ chính ṭa với tiếng chuông ngân vang phá tan bầu khí tĩnh mịch của những buồi sáng sớm mùa đông giá buốt. Tôi yêu Chùa Hương lúc nào cũng hương khói nghi ngút, nhất là trong dịp Xuân về tấp nập khách thâp phương. Tôi yêu cảnh hoàng hôn lúc mặt trời lặn ở Hồ Tây, và tôi yêu Năm Cửa Ô, cùng 36 phố phường của Hà nội.
 

Tất cả những h́nh ảnh ấy đă gợi nhớ cho tôi những ngày cuối năm 1952 khi cả gia đ́nh mới từ vùng kiểm soát của Việt Minh ở Nghệ An và Thanh Hóa, trốn về được Hà nội qua ngả Bùi Chu cũng bằng ghe, bằng thuyền. Gia đ́nh chúng tôi sống trong khu vực dành cho các sĩ quan của Quân Y Viện Vơ Tánh, nằm về phía tây thành phố Hà nội, xa phố xá ồn ào. Ở đó cư dân thưa thớt, không khí trong lành và yên tĩnh. Thời gian ấy cũng chính là thời gian đang xảy ra trận chiến Điện Biên Phủ giữa quân đội Pháp và lực lượng Việt Minh Cộng Sản. Đêm đêm, tiếng súng đại bác và những tiếng bom nổ rền vọng về. Trước t́nh h́nh đó, cũng như bao nhiêu người khác, thân phụ tôi, đă nhiều đêm thao thức lo lắng, v́ sợ chiến trận tràn về thành phố. Nhất là khi ấy, gia đ́nh chúng tôi vừa mới thoát khỏi vùng cộng sản kiểm soát. Sau những tháng ngày cầm cự, quân đội Pháp đă không cản nổi trước sức tấn công của Việt Minh, nên đă thua trận. Chính sự thất bại này đă dẫn đến việc chia đôi đất nước.
 

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève ra đời. lấy vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị làm ranh giới. Ngày 20 tháng 7, ngày đau thương của dân tộc. Ngày chia ly của những gia đ́nh có kẻ đi, người ở lại. Người ở lại, một phần v́ không muốn bỏ nhà cửa, tài sản của cải mồ mả cha ông, một phần v́ đă tin rằng, hiệp định Genève có điều khoản nói về ngày thống nhất quê hương sau vài năm. Đă có hơn một triệu người chạy trốn chế độ. Trong số đó, đa số là người công giáo sống tại các tỉnh Bùi Chu, Phát Diệm.
 

Gia đ́nh chúng tôi đă ra đi chỉ một tuần lễ sau, bằng máy bay quân sự của quân đội Pháp, cất cánh từ phi trường Gia Lâm. C̣n ǵ đau buồn cho bằng khi nh́n từ trên cao xuống, thành phố Hà nội và những vùng ngoại ô đang mờ dần sau những lớp mây dầy đặc. Hà nội, mà nơi ấy gia đ́nh chúng tôi mới được hít thở cái không khí thanh b́nh tự do chỉ hơn một năm trời.
 

Sau gần ba tiếng đồng hồ, thành phố Sài g̣n đang hiện rơ dần qua khung cửa sổ nhỏ của máy bay. Khác với thành phố Hà nội, Sài gon nhà cửa san sát. có nhiều cao ốc. Máy bay càng xuống thấp, càng thấy rơ xe cộ tấp nập, Tôi bồi hồi với những xúc cảm chưa nguôi khi xa Hà nội, với những lo âu về những ǵ ḿnh phải đối diện trong những ngày tháng sống tại miền đất mới, hoàn toàn xa lạ. Mặc dầu cùng một mảnh đất quê hương với h́nh chữ S, nhưng Sài g̣n mà tôi đă được nghe kể trong những ngày gần di cư, th́ hoàn toàn khác biệt với cuộc sống ở miền bắc. Tôi đang miên man suy nghĩ, th́ máy bay đă đáp và rồi ngừng hẳn, ngay trước phi cảng. Phi Trường Tân Sơn Nhất quả thật rộng hơn phi trường Gia Lâm của Hànội.
 

Sống với người miền Nam, ngay từ những ngày đầu, chúng tôi đă gặp những câu hỏi như: "Tại sao các người lại bỏ xứ bắc mà 'dô' đây? Cộng sản Việt Minh là ai mà phải chạy trốn?" Người dân sống ở miền nam không nếm mùi chiến tranh, không phải lo âu sợ sệt v́ chiến tranh. Đất miền nam thật an b́nh. Người dân sống tự do. Phố phường tấp nập, ngày cũng như đêm. Hàng quán ăn uống ở khắp các ngă tư đường. Họ uống "la-de" để giải khát lúc trời nóng nực. Chữ "la-de" mà người miền nam đọc từ âm của chữ "la bière", tiếng Pháp là rượu bia. Người miền bắc đọc là "bia", âm đọc cũng từ chữ "bière" mà ra. Ngày nay, mọi người đều dùng chữ "la-de" để chỉ món giải khát thông dụng. Khí hậu miền bắc lạnh giá với 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông rơ rệt. Miền Nam nóng bức, nắng mưa hai mùa trong năm.
 

C̣n ǵ ngạc nhiên cho bằng, khi uống một ly nước mía 50 xu, mà miền bắc gọi là năm hào, người bán hàng đă thối lại tiền giấy 1 đồng bằng cách xé đôi tờ giấy bạc, trả lại khách 1 nửa! Người miền bắc di cư chắc chắn không thể quên được cái kỷ niệm ấy. Miền bắc mới có món phở, miền nam chỉ có món hủ tíu. Rồi dần dà món phở ḅ, phở gà đă trở nên món ăn được người miền nam ưa thích. Ăn hủ tíu th́ phải có gía sống. Người bắc di cư ăn phở, lâu rồi cũng quen với gía sống, gía trụng. Đêm đêm có tiếng gơ "cóc cóc" của mấy chú ba tầu bán ḿ, bán hủ tíu. Âm thanh ấy thật lạ đối với người di cư, nó đă gợi nhớ trong tôi tiếng rao: 'phở.. phở' của người bán hàng, trên đôi vai trĩu nặng gánh, với ánh lửa le lói để hâm nóng nồi nước dùng, mà trong nam gọi là nước lèo. Đêm đông lạnh gía ở miền bắc, ăn một tô phở nóng, cũng thú vị lắm.
 

Chuyến tầu thủy thương mại, sau hai ngày đêm lênh đênh trên biển, đă cặp bến cảng Cầu Đá Nha Trang, tỉnh Khánh Ḥa. Một hải cảng cách thành phố không đầy 10 cây số, có căn cứ hải quân nằm sát bờ biển, thân phụ tôi cùng gia đ́nh được thuyên chuyển để người làm việc tại Bệnh Viên Quân Sự Nguyễn Huệ ngay trung tâm thành phố Nha Trang. Một thành phố của miền trung, có băi biển chạy dài, được mệnh danh là biển đẹp của vùng Đông Nam Á, cát trắng tinh, với những hàng dừa xanh rủ bóng, sát bờ, sóng vỗ nhè nhẹ trong những đêm trăng lặng gió, Nha Trang có Ḥn Chồng, có Tháp Bà, có cầu Xóm Bóng.
 

Tôi vào học lớp Đệ Tứ ở trường Trung học công lập Vơ Tánh. Trong một đêm lửa trại tại sân vận động sau nhà trường vào dịp Tết, thời tiết lạnh, tôi được đại diện để đọc một bài 'diễn văn'. Nói là diễn văn cho trang trọng, chứ thực ra chỉ là những lời tâm t́nh của người xa xứ. Tôi nhớ măi lời cuối cùng chân t́nh của tôi trong đêm ấy đă làm mủi ḷng những người Bắc di cư đang có mặt, và đă làm tăng thêm sự thông cảm của người địa phương, khi tôi nói: "Đêm nay, bên ánh lửa hồng bập bùng nóng ấm, ḷng người di cư vẫn thấy giá lạnh. Giá lạnh v́ xa quê hương, v́ cảm thấy cô đơn lạc lơng giữa nơi xứ lạ quê người. Chỉ có t́nh thương, với ṿng tay thân ái giúp đỡ của bạn bè, của người cùng chung máu đỏ da vàng mới sưởi ấm được ḷng những người phải bỏ nhà cửa ra đi v́ thời cuộc..." Chính tôi đă không ngăn được gịng lệ, và nghẹn ngào khi nói lên điều đó. Những người di cư đều biết ơn nhà chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm, đă can thiệp để quốc tế giúp đưa vào nam trên những chiếc tầu há mồm của Mỹ. Ông Diệm đă được toàn dân miền nam bầu làm Thủ Tướng, sau đó làm Tổng Thống, và nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa đă ra đời.
 

Tiếp tục công việc đèn sách, sáu năm sau, tôi đi dạy học. Những ngày tháng hè tôi đă ra thăm miền Trung. Xe chạy ra khỏi thành phố Nha Trang, trên những khúc đường quanh co nguy hiểm của đèo Cả. Xuống khỏi đèo là băi biển Đại Lănh, nước trong xanh, tiếng thông reo vi vu. Là khách du lịch bằng đường bộ không thể nào không dừng lại nơi đây dăm ba phút để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên. Đèo Hải Vân, đường xe chạy quanh co xoáy ốc. Xe cộ chỉ chạy một chiều lên, hoặc xuống để tránh nguy hiểm. Đỉnh đèo hầu như lúc nào cũng dầy đặc mây bao phủ, v́ ở độ cao, lạnh và gío lồng lộng. Biển Lăng Cô phẳng lặng. Những chiếc ghe đánh cá đen ś cũ kỹ, đang thả neo, tương phản với màu nước biển xanh biếc. Lăng Cô một danh lam thắng cảnh của miền trung, nằm bên quốc lộ số 1. Xứ Huế thơ mộng, có núi Ngự B́nh, có cầu Trường Tiền bắc ngang qua sông Hương. Có chùa Thiên Mụ. Nội thành có những lăng tẩm, đền đài cổ xưa của các thời vua chúa như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đă thu hút khách thập phương đến tham quan. Quảng Trị, nơi đây có Linh Địa La Vang. Nơi Đức Mẹ đă hiện ra năm 1798, vào lúc đạo công giáo bị bách hại dưới thời vua Cảnh Thịnh. Miền trung cũng là nơi mà thiên tai thường hay xẩy ra, với những trân cuồng phong, lũ lụt, cuốn trôi nhà cửa ruộng nương, tài sản và cả mạng sống con người. Miền cao nguyên có Ban Mê Thuột, có Pleiku với những đồn điền trồng cà phê xanh tươi, một trong những nguồn lợi tức chính xuất cảng của Việt nam. Đàlạt mộng mơ, có Hồ Xuân Hương nằm ngay bên thành phố. có Trường Vơ bị Quốc Gia Đàlạt, nơi đă từng đào tạo ra các sĩ quan tài giỏi của cả hai nền đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa, có hồ Than thở, một thắng cảnh đẹp, thơ mộng, mà chuyên kể rằng... Có một chàng trai yêu nước từ gĩa người yêu để gia nhập đoàn nghĩa binh dưới thời vua Quang Trung. Người yêu không muốn cản trở ư chí của chàng, nên đă ra ngồi bên bơ hồ, than thân trách phận, rồi nhảy xuống hồ tự tử. Chàng thanh niên ấy đến bờ hồ, nơi hai người đă hẹn ḥ, trước khi chia tay, nhưng không thấy người yêu, mà chỉ nghe có tiếng gió rít nhè nhẹ cây lá xào xạc, như tiếng than thở u buồn. Từ đó mới có tên là hồ Than Thở.
 

Người dân trong chế độ quốc gia đẫ sống yên b́nh không được bao lâu. Nền Đệ Nhất Cộng ḥa chấm dứt với cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ngày 2 tháng 11 năm 1963. Từ đó người dân đă chứng kiến qua biết bao cuộc đảo chính, chỉnh lư giữa các tướng lănh tranh giành quyền lực. Những lúc này là thời gian thuận lợi cho chế độ miền bắc đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích, nằm vùng, mà họ gọi là chiến tranh giải phóng nhân dân.

Nền Đệ Nhị Cộng Ḥa ra đời đă chấm dứt được những tháng năm đầy xáo trộn. Nhưng cũng chẳng bao lâu, chiến sự lại bùng lên, bằng cuộc tấn công của cộng sản ngay trong những ngày đầu xuân của Tết Mậu Thân năm 1968. Rồi đến biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Từ sau các biến cố này, người dân đă cảm thấy một tương lai đen tối, với những trận chiến ác liệt giữa hai bên mỗi ngày một bùng nổ khắp nơi. Bên cạnh đó, t́nh h́nh chính trị thế giới giữa các siêu cường đă dẫn đến việc rút lui của các lực lượng quân đội đồng minh, qua hiệp định đ́nh chiến Paris năm 1973, sau gần 10 năm tham chiến, để giúp miền Nam chống cộng. Chết chóc, đau thương tang tóc vẫn tiếp tục xảy đến cho người dân. Như vết dầu loang, các tỉnh miền Trung dần dần đă lọt vào tay cộng sản. Cuộc rút lui chiến thuật, từ Đà nẵng vào Huế, cũng như từ Pleiku về Nha Trang, đă là h́nh ảnh đau thương nhất không thể nào phai mờ trong tâm khảm của người dân nói chung, và của những chiến sĩ đă anh dũng một thời chiến đấu đễ giữ vững miền Nam.
 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày đen tối của toàn dân miền Nam. Hai mươi mốt năm trước đây, năm 54, hơn một triệu người phải bỏ xứ chạy vào nam trốn cộng sản. Nhưng 30 tháng 4 năm 75, màn đêm đen tối đă phủ ập trên đầu của trên 50 triệu dân. Từ ngày đó đến nay, đă 30 năm. Nhưng tôi cứ nghĩ như mới chừng vài năm thôi. Bởi v́ những kỷ niệm đau thương ấy đă không thể nào phai mờ trong trí tôi, cũng như trong tâm tư của bất cứ người Việt Nam nào đang sống ở hải ngoại, và những người c̣n ở lại tại quê nhà, vào lứa tuổi từ 45, 50 trở lên.
 

Làm sao tôi quên được những ngày gần kề của biến cố đó, khi gia đ́nh chạy đôn chạy đáo, t́m cách để trốn chạy chế độ. Tại bến Bạch Đằng, sông Sàig̣n, những chiến hạm cuối cùng của hải quân, vội vàng nhổ neo, chở theo thân nhân của các sĩ quan và thủy thủv đoàn, cùng một số người may mắn được bốc theo. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, các chuyến bay cũng cất cánh mang theo những người lanh chân vào được căn cứ. Các chuyến tàu thương mại của tư nhân cũng nhổ neo rời bến với hàng chục ngàn người trên boong.. Tôi vẫn c̣n nhớ măi h́nh ảnh hàng trăm người chen lấn ngay ở cổng Ṭa Đại sứ Mỹ, nằm trên đại lộ Thống Nhất, để xin được vào trong khuôn viên, với hy vọng được trực thăng bốc đi. Có những người cố chen đến gần anh lính quân cảnh, giơ lên giấy chứng nhận ḿnh làm sở Mỹ với hy vọng được cho vào. Chiếc trực thăng cuối cùng trên nóc ṭa đại sứ cũng đă bay đi, bỏ lại những người c̣n đứng trong sân, nét mặt sững sơ, nuối tiếc.
 

Chiều tối ngày 29, cộng sản pháo kích liên tục vào phi trường và vùng phụ cận. Người dân sống gần ṿng đai của phi trường, đều hoảng hốt v́ những đợt pháo kích nổ liên hồi. Sáng ngày 30, khoảng 10 giờ, chiếc xe thiết giáp T54 cắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao vàng, cờ của cái gọi là 'Mặt Trận Giải Phóng", đă làm sập cánh cổng sắt, tiến vào Dinh Độc Lập - biểu tượng quyền lực của hai nền Cộng ḥa kể như đă chấm dứt từ giây phút ấy.. Khoảng 11 giờ, đài phát thanh Sàig̣n phát đi lời tuyên bố đầu hàng từ một đại tướng của chính phủ. Tim tôi đau nhói. Mọi người đều bàng hoàng sửng sốt. Sàig̣n, một thời được gọi là Ḥn ngọc Viễn đông, th́ nay cửa hàng đóng im ĺm, người người ngơ ngác, đường phố xe cộ, xe nhà binh chạy ngược xuôi vô trật tự v́ không có đèn giao thông kiểm soát, không c̣n bóng dáng của một ngưới cảnh sát chỉ đường. Có những chiếc mũ sắt, những quần áo trận, những chiếc ba lô, những chiếc giầy nhà binh, của những quân nhân trên đường chạy trốn, bỏ lại vương văi trên đường phố. Một vài phóng viên người ngoại quốc đă vội ghi nhanh h́nh ảnh này vào ống kính, mà họ cũng không biết được rằng chính họ sẽ chẳng c̣n được hành nghề tự do này dưới chế độ mới.
 

Hai mươi mốt năm, lịch sử đă sang trang. Miền Nam đă đổi chủ. Hàng chục ngàn sĩ quan và viên chức cao cấp của chính phủ cũ đă bị đem đi tập trung vào các trại cải tạo. Đă có biết bao nhiêu người đă bỏ xác nơi rừng sâu nước độc tại vùng biên giới phía bắc. Với những người đă từng nếm mùi ngục tù cải tạo, với những ai đă bị tra tấn đày đọa trong gông cùm của cộng sản, chắc chắn giờ đây, dù có đang sống ở bất cứ phương trời nào trên vùng đất tự do, th́ không một ai lại có thể quên được những ngày cơ cực lầm than ấy. Đă có những người vợ đi thăm nuôi chồng, người em đi thăm nuôi anh, đă vượt hàng ngàn cây số mang theo dăm kư đồ ăn khô, với ít thuốc men cần dùng, vài lọ dầu cù là, bằng số tiền dành dụm buôn bán qua ngày, hay bán dần đi những đồ dùng trong nhà c̣n sót lại. Cũng có người vợ khi lặn lội đến được trại, th́ cũng vừa lúc được tin chồng đă chết ngày hôm qua. Cộng sản miền bắc không thẳng tay tàn sát tập thể như Hítler đă giết người Do-thái, như Pol Pot giết dân Campuchia, nhưng họ đă để cho người tù chết dần chết ṃn, v́ thiếu ăn, v́ bệnh tật, không thuốc men, nơi rừng thiêng nước độc.
 

Cuộc sống miền Nam đă thay đổi quá nhiều. Hai lần đổi tiền, kèm theo chính sách đánh tư sản, kiểm kê nhà cửa, đă có biết bao nhiêu người trắng tay trong nháy mắt. Miền Nam, ruộng lúa xanh ŕ, bao la bát ngát, thẳng cánh c̣ bay, gạo lúa tràn đầy đủ nuôi sống hàng chục triệu dân, thế mà chỉ sau ba năm, gạo không đủ ăn, phải ăn độn bằng bo bo, một loại ngũ cốc chỉ dành cho bầy ngựa! Từ miếng ăn, tư tưởng đến hành động, mọi di chuyển đều bị kiểm soát. Miền nam đă hoàn toàn mất tư do.
 

Thật vậy, nếu không khí cần cho hai lá phổi để thở, ánh sáng cần cho đôi mắt để nh́n, và t́nh yêu cần cho con tim thế nào, th́ tự do cũng cần cho đời sống con người như vậy. Giá trị và quyền lợi cao qúy nhất của con người là sự Tự Do. Cuộc sống không có tự do chỉ là cuộc sống của kiếp người nô lệ.
 

Cũng bởi hai chữ 'tự do', mà đă có cả hàng trăm ngàn người đă ch́m sâu dưới ḷng biển đại dương, hay rừng sâu nơi biên giới, trên đường trốn chạy chế độ. Bên cạnh đó đă có trên một triệu người may mắn hơn, đă t́m đến được bến bờ tự do, sau những ngày lênh đênh trên biển đầy nguy hiểm, băo tố, hải tặc.
 

***
Hôm nay,vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, những địa danh ấy và mốc thời gian 30 tháng 4 năm 75, tưởng chừng như là dấu vết đau thương đă qua. Nhưng, 51 năm, hay nói cách khác, đă hơn nửa thế kỷ, vết thương chia ly vẫn c̣n đó, đất nước tuy có thống nhất, nhưng quê hương, con dân Việt Nam vẫn khao khát một ngày thanh b́nh tự do thật sự. Nỗi đau thương chia cắt, đối với những người đă ra đi, nó vẫn c̣n nguyên vẹn, v́ vết thương văn hóa, nhân tính của con người đă bị ảnh hưởng quá nhiều bởi những ư thức không tưởng, trong một chế độc tài, xă hội c̣n qúa đầy bất công cơ cực mà người dân đang gánh chịu.
Đau đớn thay, miền nam bị bức tử, không phải v́ thiếu tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, không phải v́ người dân không quyết tâm chống công, nhưng miền nam rơi vào tay cộng sản lại do chính ở những quyết định của các thế lực bên ngoài .
 

Nhưng, không phải là tuyệt vọng. Tôi vẫn nghĩ rằng, mọi sự đều do bàn tay quyền năng vô biên của Thiên Chúa quan pḥng. Nếu không có cuộc di cư năm 54, th́ biết đâu, niềm tin của gần một triệu người công giáo đă bị dập tắt. Và nếu không có hơn một triệu người di tản v́ biến cố 30 tháng 4, th́ ngày nay làm sao chúng ta có được những nhân tài trong lớp người trẻ hiện đang có mặt trên khắp thế giới. Chính cái gia sản trí tuệ vô gía này sẽ đóng góp trong việc xây dựng cho một quê hương Việt Nam thật sự tự do, công b́nh, hạnh phúc và yêu thương.
 

Cũng như máu đào của 118 vị anh hùng tử đạo, cùng hàng trăm ngàn người đă chết v́ đức tin, đă đổ máu ra để xây đắp Giáo Hội Mẹ Viêt Nam kiên cường ngày nay, qua bao nhiêu thử thách. Điều quan trọng hơn, tôi nghĩ rằng, là cha mẹ, chúng ta cần phải cho tuổi trẻ ngày nay đang sống ở các nước tự do, đang được hưởng một nền văn minh của thời đại tân tiến, hiểu được rằng chính nghĩa của những người đă bất chấp hiểm nguy ra đi để có tự do và tương lai cho con cái, và nhắc nhở thế hệ này có bổn phận nối tiếp truyền thống của cha ông, để xây dựng tương lai đất nước tốt đẹp hơn.
 

Chúng ta có quyền hy vọng, đặt hết niềm tin sắt son vào Đấng Toàn Năng.
 

Tôi cảm tạ Thiên Chúa v́ Ngài đă cho tôi niềm tin.
 

LXM-K#1-Sydney (Minh-Dzuy, Đài TVAB)