BÁNH THÁNH PHƠI KHÔ
Sau 75, một số
lớn linh mục ở quê nhà được bề trên điều động đi nhiệm sở mới, nhiệm sở mới có
thể là một xứ đạo phồn thịnh giầu có, cơ sở khang trang. Có trường hợp, xứ đạo
chỉ là một lều tranh trống trải ọp ẹp, bệ rạc như một chuồng ngựa, phơi ḿnh
giữa cánh đồng cỏ mênh mông bát ngát. Đến mùa nước, mầu bạc phếch của lều tranh
nằm giữa mầu xanh trắng của cánh đồng, trở thành mục tiêu để giáo dân nhận ra
địa điểm dâng lễ, nơi cha xứ của họ trú ngụ.
Vị linh mục mới
của xứ đạo kia nguyên là giáo sư của Chủng viện Cái Răng Cần thơ. Cha đă có dịp
du học tại Pháp, chưa từng coi xứ đạo, rất quen với môi trường giáo-dục, quen
với thành thị hơn là đồng ruộng. Ngài kể cho tôi nghe cái ngày đầu được hai giáo
dân tới ṭa Giám mục Cần thơ đón ngài đi về phía Năm Căn, Cà mâu để nhận xứ mới.
Chú Năm kính cẩn hỏi cha: - Chắc cha biết lội chứ ạ? - Thưa không, cha trả lời.
Ông ta liếc mắt nh́n anh Tư, người bạn đồng hành, như muốn thầm hỏi, trên ghe
ḿnh có đủ đồ nghề rồi phải không. Ngoài lương thực, mái chèo, gầu tát c̣n thêm
hai cuộn dây thừng, vài cái thùng nhựa. Dây thừng, thùng nhựa sẽ được dùng để
giúp người không biết lội khi ghe lật. Chú Năm và anh Tư là quới chức của họ
đạo, nói năng thật lễ phép nhưng dáng dấp lại giống mấy chú du kích chận xe đ̣
hồi nào. Cũng v́ mấy cái thùng nhựa mà hai ông này đă có lần bị công an giữ lại
cả nửa ngày để điều tra xem có phải là thuộc dạng vượt biên hay không.
Đă quá quen với
đời sống độc thân, nên cha tự tay chuẩn bị hành trang ngay khi nhận được Bài Sai
(sự vụ lệnh của ṭa giám mục) về một địa điểm thuộc vùng Năm Căn. Quần áo giầy
dép, đồ dùng hàng ngày, …cha c̣n nghiên cứu bản đồ, phương tiện giao thông. May
mắn có một bổn đạo sống gần Ṭa Giám mục, cho cha mượn tấm bản đồ quân sự nhầu
nát lượm được sau ngày mất nước, nhưng v́ thiếu mục tiêu phụ như một ngôi chùa,
một cây cao,v.v... để làm mốc, cũng chẳng thấy dấu vết của một con sông, một cái
lạch.. Đầu bút ch́ rà trên mặt bản đồ nhiều lần mà sau cùng tọa độ của điểm đến
chỉ là một khoảng ước chừng giữa cánh đồng lầy mênh mông. Cha ngỏ ư mời hai quới
chức cùng hợp ư với ngài cầu nguyện trước khi lên đường. Ba cha con quỳ gối
trước bàn thờ đọc kinh rồi lên đường, mỗi người một suy tư. Cha vững tin vào
Thiên Chúa và coi đây là lúc ḿnh diễn lại bước chân của các thánh tông đồ khi
xưa. Chú Năm nghĩ bụng, giá mà ḿnh đem theo được cái vơng để khiêng (cáng) cha
nữa th́ tốt, v́ từ chỗ đậu ghe đi tới nhà thờ phải xắn quần lội bộ, đường đi
trơn trượt dài nửa cây số, không chắc cha đă đi nổi. Anh Tư nhẩm lại những ǵ
cần cho cái máy đuôi tôm, dầu, nước và thấy vững tâm hơn mọi lần, v́ đă cầu
nguyện và nhất là cả ba đang làm việc cho Chúa, không lẽ Ngài không thương mà
không cho đi về b́nh an.
Sau một ngày
dài, cả ba cũng cảm thấy hơi mệt, một phần v́ máy đưôi tôm quá cũ nên phải tranh
thủ chèo, người chèo, người sửa máy. Thấy hai bổn đạo quá vất vả, cha chỉ biết
cầu nguyện, có lúc ngài thử chèo phụ với chú Năm xem sao nhưng ghe chạy không
nhanh hơn mà c̣n chậm lại, tưởng chừng như ghe đang bị ma quỉ gh́ lại. May mà
thời tiết thuận lợi, nên trời vừa nhá nhem tối, ba cha con đă tới nhiệm sở, một
nhiệm sở mà ngài chưa bao giờ h́nh dung được.
Hai quới chức
dành làm hết mọi việc từ việc dắt cha bước khỏi ghe, khuân đồ đạc vào “nhà thờ”
đến việc sắp xếp đồ đạc sao cho gọn ghẽ để chuẩn bị Thánh lễ cho ngày hôm sau.
Nh́n túp lều xiêu vẹo, một xứ đạo mới, ba cha con đưa tay làm dấu thánh giá tạ
ơn rồi t́m một chỗ an toàn và cao nhất để bánh và chén Thánh. Bánh, rượu lễ và
chén thánh để vào túi ny lông treo lên, một túi khác lớn hơn để áo và sách lễ.
Anh Tư lo sắp xếp chỗ cho cha nghỉ ngơi, trước mặt là một kiểu giường hai tầng
đă sáng chế, tầng dưới là giường ngủ của cha, tầng trên dùng làm bàn thờ. Một
khi giường đôi được phủ bằng hai tấm vải trắng th́ bàn thờ trở thành quá dài so
với căn lều, giường hơi thấp không sợ té nhưng dễ bị sưng đầu v́ đụng phải tầng
trên.
Đồ đạc của cha
dọn tới đă được đơn giản tối đa bằng cách để lại ở ṭa giám mục, vỏn vẹn một
chăn mỏng, một cái màn, cái gối và một chiếc đèn dầu hôi với hai bóng, một bóng
không mầu và một bóng mầu đỏ, sẽ được thay đổi cho thích hợp để đọc sách và dùng
làm đèn chầu. Cha dự định sẽ đọc sách ban ngày và “nhà thờ lều” kể từ nay sẽ có
ánh đèn chầu với nhà tạm có Ḿnh Thánh Chúa. Thánh Thể là linh hồn của người
công giáo và là lương thực cho đời sống bất diệt, như lời thánh Gioan: “Ta là
bánh từ Trời, bánh này là thịt ta ban cho thế gian được sống”(Ga 6:51-58). Cha
ráng t́m cây viết và miếng giấy lớn nhất để viết lời Phúc âm này treo trước bàn
thờ cho mọi người dễ dàng suy niệm về phép Thánh Thể nhưng t́m không ra giấy,
miếng giấy lớn nhất mà cha có trong tay là tờ bài sai và trang cuối của sách lễ
nên đành chịu. Theo lời quới chức th́ quanh đây rất ít giáo dân biết chữ, vùng
này chưa bao giờ có trường học mà chỉ có tiếng bom, tiếng súng, tiếng gào thét
rên rỉ của người bị thương. Cha nảy ra ư định là bài giảng của ḿnh kể từ nay
phải diễn tiến như một buổi nói chuyện, đơn sơ để mọi người dễ hiểu LỜI CHÚA.
Chiều ḷng quới
chức cha nằm nghỉ dưới chân bàn thờ, đầu óc miên man nhớ những lời họ dặn, nào
là cha nhớ để đôi dép lên chỗ cao, phải tỉnh ngủ nhắm chừng khi nước lên th́ cha
dậy mang mùng mền lên bàn thờ mà nằm. Chú Năm đă nói mà có lẽ chú c̣n căn dặn cả
anh Tư ngoài ghe nữa, là liệu chừng phải giúp cha khi cần. Đêm đến khi nước lên
ghe cũng lên nên Tư vẫn ngủ ngon lành. Trước khi đi chú khoanh tay xá cha và hỏi
xem cha cần ăn uống ǵ tối nay nữa không. Chú có bổn phận đi báo cho bà con biết
là cha mới đă tới và ngài bắt đầu dâng lễ 5 giờ sáng mai, ngày mốt là Lễ Kính
Ḿnh và Máu Thánh Chúa. Đặt ḿnh xuống giường chưa đầy 10 phút, miệng lẩm bẩm
đọc kinh tạ ơn th́ một ư tưởng thoáng qua là 'nếu Chúa cất con về ngay lúc này
th́ thật là sung sướng cho con' con không thấy có ǵ vướng mắc sau hơn 15 năm
làm linh mục, nếu có th́ chỉ là chưa chu toàn bổn phận theo ư nghĩa của bài sai,
đem Tin Mừng cùng của ăn trường sinh đến cho bà con trong xứ đạo này, trước đây
là vùng “oanh kích tự do”, đau khổ triền miên...
Ngủ lúc nào
không hay, quên cả đánh răng, một thói quen hầu như chưa bao giờ quên lăng. Gần
sáng khoảng 4 giờ đă có tiếng xôn xao bên ngoài, thức giấc cảm thấy ướt lưng ướt
quần, đứng dậy đi rửa mặt đánh răng và thay quần áo, t́m dép th́ dép đà biến
mất. Anh Tư nói vọng vào cho biết là đă lượm được dép cho cha, đêm rồi nước dâng
đến tận chỗ nằm, dép trôi ra ngoài, quần áo cha ướt.... Cha con chuẩn bị Thánh
lễ mới hay bánh thánh cũng bị ướt, lựa lấy một phần khô vừa đủ cho buổi lễ, phần
c̣n lại đem phơi, may quá bánh lúc ấy chưa có truyền phép, cha nhủ thầm phải
thận trọng chứ không có ngày cha con cùng “rước Chúa ra phơi”. Chú Năm nhận
trách nhiệm phơi bánh, cái lưới bắt cá của chú được giặt sạch dùng để che bánh,
đề pḥng gió hoặc chim trời tha đi. Bữa lễ có chừng tám chục bổn đạo tham dự, đa
số là người già ốm yếu, con cháu họ một phần đă hy sinh trong chiến cuộc.
Ngoài buổi lễ
truyền chức của cha 15 năm về trước th́ đây là thánh lễ thứ hai mà cha thấy thật
cảm động trong đời linh mục. Thánh lễ lần này không những đă diễn lại cuộc tử
nạn của Chúa với đầy đủ ư nghĩa, mà nổi bật nhất là đă nói lên sự HIỆP NHẤT của
con cái Chúa với những mảnh đời vô cùng phức tạp, cầu cho những người trong xứ
đạo đă khuất, vui v́ Chúa vẫn luôn quan pḥng, mừng v́ bà con có linh mục, người
thay mặt Chúa dọn bữa trường sinh mỗi ngày cho chúng ta. Sau lễ, mọi người đều ở
lại hàn huyên thăm hỏi nhau, chia sẻ cho nhau những thực phẩm họ mang theo. Cha
rất ngac nhiên khi thấy họ mang theo lương thực và đồ dùng cần thiết, ngài có
cảm tưởng như họ di cư chứ không phải là đi lễ. Một cụ già cho biết, đấy là thói
quen trong thời chiến để họ có thể sống qua ngày v́ không biết đụng trận lúc
nào, bom đạn lúc nào, khi nào th́ Chúa gọi … Cha quá xúc động khi người ta cứ
nhắc lại câu hỏi “Thưa cha, cha có ở đây lâu không, chúng con ước ao ở gần đây
quá cha à?” Cụ khác trao cho cha một danh sách những người quá cố để xin lễ cầu
nguyện, với năm sinh, hơn một nửa không có tên thánh và là thành phần trẻ, dầy
đặc hai trang giấy học tṛ mầu cháo ḷng... Hỏi ra mới hay lớp trẻ tại đây đă
chết nhiều v́ bom đạn. Bổng lễ của họ là những trái trứng c̣n lem luốc vết đen
của phân gà, phân vịt, vài bó rau, cặp gà.
Hồi tưởng lại
đời linh mục, chưa bao giờ cha thấy ư nghĩa như lúc này, là thợ gặt cho Chúa cha
chỉ mong làm vừa ḷng chủ và mang nhiều lúa về cho chủ, trước mặt cha đây là
những người khát khao nghe LỜI CHÚA và đói v́ thiếu những mẩu BÁNH TỪ TRỜI mà
một linh mục có thể tạo ra. Trong xứ đạo c̣n có người ngại đến với Chúa, t́m
cách xa Chúa hay ghét Chúa, cha không quên họ mà t́m cách đến thăm họ trước.
Chương tŕnh thăm viếng, giáo dục về chữ và giáo lư cùng các phép bí tích cho xứ
đạo sẽ được hội ư với quới chức để gấp rút thực hiện.
Đêm rồi cha ngủ ngon một phần nhờ chú Năm đă lồng hai cái mùng làm một, nên muỗi
Cà mau phải chịu thua, chứ không, với sự tiếp tay của ma qủi, muỗi có thể khiêng
cha trả lại cho ṭa giám mục dễ như chơi.
“Cám ơn Chúa
thợ gặt đă có chỗ làm, xin bà con cầu nguyện cho tôi”. Lời chào mộc mạc khiến bà
con cười to không kịp che miệng, cha mới nhận ra nhiều con chiên có miệng không
răng, hiện rơ trên những gương mặt xạm nắng nên ngài cũng cười theo, có điều ư
nghĩa của nụ cười có hơi khác.
Đaminh MVH.