THIÊN CHỨC LINH MỤC
 

I- LINH MỤC LÀ AI?
 

Chúa Kitô, vị Đại tư tế và là người trung gian duy nhất đă làm cho Giáo Hội trở thành”một vương quốc các tư tế cho Thiên Chúa và Cha của Ngài” (KH1,6). Toàn thể cộng đồng các tín hữu có chức tư tế, xét như cộng đoàn. Các tín hữu thi hành chức linh mục của phép Rửa tội bằng cách tham dự vào sứ mạng của Chúa Kitô mỗi người theo ơn gọi riêng của ḿnh, và sứ mạng của Chúa Kitô là: Tư tế, Ngôn sứ và Quân vương. Chính nhờ bí tích Rửa Tọi và bí tích Thêm Sức mà các tín hữu “được thánh hiến... trở thành hàng tư tế thành thiện. (Sách GLCG câu 1546).
Trong bí tích Rửa Tội tất cả chúng ta đều trở thành các linh mục chung (phổ quát). Qua bí tích truyền chức thánh một số người trong dân của Thiên Chúa được tuyển chọn để trở thành các linh mục thừa tác
 

II- CHỨC LINH MỤC CỦA PHÉP RỬA: Linh Mục phổ quát.
 

Nh́n chung trong các sinh hoạt của Giáo hội, các tín hữu rất thụ động, ít để ư và thực thi chức linh mục này, giáo dân không đóng góp tích cực như trong những giai đoạn đầu của Giáo hội sơ khai: “Chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông bẻ bánh và kinh nguyện (CVTĐ 1,42) và “ngày ngày họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới Đền thờ, bẻ bánh ở nhà, và cùng chia sẻ của nuôi thân, ḷng hân hoan dạ trung thành, trong lời ngượi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân. Và số những kẻ được cứu rỗi mỗi ngày được Chúa ban thêm mà nên một cùng nhau” (CVTĐ 1,46-47).
Hiện nay, các sử gia Tả Khuynh cho rằng Giáo hội sơ khai như một “Xă hội dân chủ” (Hợp Tuyển Thần Học số 34). Để t́m hiểu nguyên nhân tại sao, cũng cần ngược lai ḍng lịch sử của Giáo Hội theo linh mục Manny Flores SJ. th́ Giáo hội Công giáo được chia ra làm 10 thời kỳ như sau:
 

1- Giáo hội Tân Ước năm 33-100.
Giáo hội do Chúa Kitô thành lập và được Chúa Thánh Thần khởi động, qua phép Rửa mọi tín hừu đều xứng đáng trở thành môn đệ Chúa Giêsu, mọi người đều được kêu mời sống thánh thiện, đều được kêu mời làm muc vụ, tức là làm vườn nho của Chúa tùy theo nhu cầu, các đặc sủng và truyền thống,
 

2- Các thế kỷ sơ khai năm 100-300.
Vào những thế kỷ đầu Giáo Hội chưa có hàng rào phân cách giữa giáo sĩ và giáo dân, danh từ giáo sĩ được sử dụng từ năm 200, c̣n danh từ giáo dân từ sau 220. Danh từ tư tế được hiểu là linh mục, bắt đầu được sử dụng trong các cộng đoàn nhỏ. Thời kỳ này Giáo hội bị coi là bất hợp pháp, bị bách hại và thường dẫn đến tử đạo.
 

3- Giáo hội do giáo sĩ chuyên chế năm 300- 450.
Giáo Hội được công nhận, và trở thành xă hội lư tưởng, được nhiều người tin theo, năm 395 dưới thời Hoàng Đế Theodosio, trở thành quốc giáo. Hàng giáo sĩ nhất là các giám mục trở nên như các quan chức của chính quyền. Latinh trở thành ngôn ngữ chính của quốc gia Roma. Giáo Hội bị lệ thuộc vào quốc gia và đôi khi c̣n hy sinh các lợi ích thiêng liêng cho các mục tiêu cai trị. Tầng lớp giáo sĩ nắm giữ cả thần quyền lẫn thế quyền, đưa tầng lớp giáo dân xuống đáy tận cùng của Giáo Hội, từ đó giáo sĩ đi vào đà thoái hóa. Nên trong Giáo Hội xảy ra nhiều tệ trạng, khiến nhiều tín hữu vào sống trong sa mạc. Pachomius tổ chức các cộng đoàn ẩn tu. Nhờ vào ḷng đạo đức và sự thánh thiện các vị ẩn tu này ảnh hưởng được Giáo Hội, nhiều vị đă trở thành giám mục và các nhà lănh đạo gương mẫu.
 

4- Đế quốc Rôma sụp đổ năm 450- 800.
Đế quốc Roma suy tàn kéo theo chế độ chuyên chế sụp đổ, làm nảy sinh chủ nghĩa Giáo Hội trở về lối sống khắc khổ. Thánh Benedicto với các tu sĩ khổ tu tác động đến Giáo Hội thật sâu rộng với chủ trương các tín hữu: Sống vừa cầu nguyện vừa lao động, thích nghi theo đời sống nông thôn, tập trung thành các cộng đoàn cầu nguyện và tôn sùng Thánh thể. Vào thời kỳ này nhiều quốc gia Bắc Âu tin theo Kitô giáo nhờ các hoạt động của tầng lớp giáo dân như: Olaf, Erich...
 

5- Thánh Đế Quốc Roma và Giáo Hội Phong Kiến năm 800-1000.
Năm 800 vua Charlemagne của Pháp, được phong làm hoàng đế đầu tiên của Thánh Đế Quốc Roma là người bảo vệ ngôi giáo hoàng. Mở ra một trang sử mới của Giáo Hội mà thế quyền, và giáo quyền phối hợp, nối kết thành một tổ chức được coi như linh thánh. Từ đó hàng giáo sĩ lại bắt đầu trèo dần lên nấc thang cao nhất, và hàng ngũ giáo dân rơi xuống nấc thang tận cùng. Ngay trong phụng vụ, giáo dân chỉ c̣n nghe và theo dơi các nghi lễ phụng vụ bằng tiếng Latinh mà họ chẳng hiểu ǵ. Mọi chức vụ đều nằm trong tay hàng giáo sĩ. Gíáo dân chỉ c̣n là thành phần nghe dạ bảo vâng và đóng góp tài chính. Ngoài ra họ không c̣n nắm các chức vụ nào khác.
 

6- Hàng ngũ giáo dân trỗi dậy năm 1000-1600.
Trước sự thoái hóa trầm trọng của hàng giáo sĩ, Giáo hoàng Gregorio VII đă cải cách hàng giáo sĩ. Ngài tấn công vào việc buôn bán chức sắc, buôn bán các đồ thờ phượng trong Giáo hội, kiểm soát chuyện t́nh dục, và việc chuyển giao tài sản cho con cái của các giáo sĩ. Ngài ra luật bắt buộc các tu sĩ phải sống độc thân. Kể từ đó Giáo hội trên đường canh tân triển nở với nhiều ḍng khổ tu nổi tiếng, lớp tu sĩ mới mọc lên xinh tươi, đem lại luồng sinh khí mới trong Giáo Hội như các ḍng của Thánh Phanxico Assisi, Thánh Đaminh. Các ḍng này chủ trương: Rao giảng Tin Mừng bằng đời sống khó nghèo hướng về mục vu, hơn là hướng về tính cai trị quyền bính trong Giáo Hội, họ chăm lo đời sống tâm linh cho các tín hữu, và canh tân thần học. Nhờ đó Giáo Hội có được các nhà thần học lừng danh. Trong giai đoạn này Giáo dân cũng có những phong trào sống đời khó nghèo, những nhóm học hỏi Kinh Thánh để lên đường loan báo Tin Mừng, những lớp giảng dậy và hướng dẫn tu đức. Nhưng cũng từ đây phát sinh ra một số đi lạc hướng và tà giáo. Vào giai đoạn này cao trào Thập Tự Quân dành lại Đất Thánh. Thêm vào đó phát minh ra máy in cũng như làn sóng kinh doanh đi t́m thuộc địa, đă làm cho địa vị giáo dân không c̣n bị khinh thường như trước nữa.
 

7- Cải cách và Công đồng Tridentino năm 1517-1563.
V́ việc can thiệp của tầng lớp giáo dân trưởng giả vào các quyết định của giáo quyền, và một số các nhà cải cách tấn công chức linh mục. Vào giai đoạn này chủ nghĩa phong kiến vẫn c̣n chiếm ưu thế trong giới giáo sĩ nắm quyền hành và đặc ân. Nên các nghị phụ đưa đến quyềt định mở công đồng Tridentino.
Trong giai đoạn này tạo nên cuộc cải cách của anh em Tin Lành v́ Giáo triều thời phục hưng suy đồi, cuộc ly dị giữa tu đức và thần học, giữa thần học và Kinh Thánh cũng như các giáo phụ, Giáo Hội quá bị lệ thuộc vào nền văn minh Tây Phương.
 

Công đồng nhấn mạnh đến việc bảo vệ chức linh mục, củng cố hệ thống hàng giáo phẩm từ ngôi vị giáo hoàng tới phó tế, hàng giáo sĩ được bảo vệ, nâng cao và dĩ nhiên tầng lớp giáo dân lại một lần nữa bị gạt ra ngoài lề Giáo Hội xem là cấp thấp kém. Không được nhắc nhở ǵ đến trong các văn kiện của công đồng. Công đồng Tridentino chỉ nhằm đào tạo nên một tầng lớp giáo sĩ về cả học vấn lẫn tu đức, trong khi tầng lớp giáo dân bị quên lăng, xem như không có mặt trong đời sống của Giáo Hội!..
 

8- Giáo hội sau Công đồng Tridentino năm 1563-1950.
Sự thiếu quân b́nh của Công đồng Tridentino kéo dài đến giữa thế kỷ 20 và không ai dám b́nh phẩm. Giáo hội trở thành dị ứng khi nghe các đề tài như: “Chức linh mục của người giáo dân”, hay “Mục vụ giáo dân”. Những ai dám đưa ra đề tài này ra, thường bị chụp mũ là theo chủ nghĩa Thệ Phản. Nhờ việc học hỏi nghiên cứu Thánh Kinh tạo ra những cải cách đáng kể trong giáo hội. Cá nhân hoặc các nhóm chia sẻ Kinh Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, chứ không phải giáo sĩ, đă giúp người tín hữu được nuôi dưỡng tâm linh và phát triển kiến thức và cảm nghiệm Thánh Kinh, cũng như gia tăng niềm khao khát sống Lời Tin Mừng.
 

9- Phong trào Giáo dân và Công giáo Tiến hành 1800-1963.
Đây là những phong trào và công giáo tiến hành do giáo dân h́nh thành, thường không được hàng giáo phẩm chúc lành cũng như lănh đạo. Thí dụ như các tổ chức các học giả, liên minh các thợ thuyền và doanh thương, các nhóm sắc tộc, cả trên b́nh diện địa phương lẫn quốc tế, họ thường là thành phần có kiến thức, và có tư cách muốn sống và hoạt động Tin Mừng. Đôi khi có những ngộ nhận bị chụp cho chiếc mũ là chống đối hàng giáo sĩ!..
 

Công Giáo Tiến Hành mang ư nghĩa: “Người giáo dân chia sẻ việc tông đồ với hàng giáo phẩm” hoặc đây là sự cộng tác, phối hợp tông đồ giữa hàng giáo phẩm và giáo dân, họ đi theo một đường lối tu đức và hoạt động phong phú hữu hiệu trong môi trường họ sống. Nhưng với cái nh́n không mấy thiện cảm, của hàng giáo sĩ thời bấy giờ với các đoàn thể của giáo dân, đă đưa đến việc tranh chấp. Do đó, qua sự can thiệp của một số giám mục và giáo hoàng, giáo sĩ thắng thế!.. Thế là cơ may thăng tiến giáo dân trong giáo hội bị chặn lại, hoặc nếu c̣n sinh hoạt cũng bị hàng giáo phẩm kiểm soát hạn chế. Có nhiều nơi công giáo tiến hành chỉ là các đoàn thể đọc kinh, phục vụ trong khuôn viên thánh đường dưới quyền điều động của linh mục!..
 

10- Công đồng Vatican II 1962 đến hiện nay
Một luồng gió mới do Chúa Thánh Linh tác động, Công Đồng Vatican II ra đời đă đưa ra các chứng liệu chính thức, nh́n nhận phong trào giáo dân đă tiến triển hàng ngàn năm nay. Song song với đà tiến của giáo hội, điều này vô h́nh chung đă đẩy hàng ngũ giáo dân tiến về phía trước. Nhưng mặc dù Công Đồng đă trôi qua gần nửa thế kỷ, nhiều địa phương vẫn c̣n duy tŕ vai tṛ độc tôn của giáo sĩ.
Nh́n lại Công Đồng Vaticano II, là một Công Đồng mang chiều kích lịch sử của Giáo Hội Công Giáo, với sự tham gia của 2600 giám mục, trong khi công đồng Vaticano I chỉ có 737 nghị phụ , c̣n Công đồng Tridentino chỉ có dưới 40 giám mục mà hầu hết lại là người Ư. (Trích trong bài “Rút kinh nghiệm lich sử định hướng những chiến lược cho tương lai” của ông Nguyễn Văn Nội một tông đồ giáo dân tai Việt Nam)
 

Trong quá khứ giáo dân phần đông ít học, nên các giáo sĩ đă có những vai tṛ chủ động nhiều hơn cả hai lănh vực Thần quyền và Thế quyền, làm cho giáo dân chỉ đóng vai tṛ thụ động. Thời trung cổ các vua chúa Âu Châu bổ nhiệm giáo sĩ vào các chức vụ của Giáo hội tại các vùng thuộc lănh địa của họ. Công đồng Vatican II, đă đưa Giáo Hội trở về nguồn với một Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân. Trong chương IV có đề cập rất nhiều về vai tṛ và vị trí của giáo dân. Qua sắc lệnh, Giáo Hội không những kêu mời mà c̣n nêu lên bổn phận của mỗi Kitô hữu là hiệp thông và chia sẻ vai tṛ Tư tế, Ngôn sứ và Vương Giả.
 

Nh́n lại hoàn cảnh với sự thiếu hụt giáo sĩ của Giáo Hội, thiết tưởng hàng giáo phẩm Việt Nam nên có cái nh́n rộng răi để giúp giáo dân có cơ hội học hỏi, tham gia một cách tích cực hơn trong các sinh hoạt của Giáo Hội. Với giáo hội Tây phương sau công đồng Vatican II, người giáo dân đă có những lớp giảng dạy nâng cao kiến thức về những lănh vực chuyên môn, giúp họ có cơ hội tham gia nhiều lănh vực trong phạm vi phụng vụ mà trước đây chỉ dành riêng cho những người có chức Thánh. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy các giáo dân làm Linh hướng, giảng Kinh Thánh (trừ bài giảng sau Phúc âm), dạy Thần học v...v... c̣n đối với các cộng đoàn Việt Nam chúng ta không biết đến lúc nào!..
Theo cha Philip Gomez SJ. (Ngô Minh) th́:
 

“T́nh trạng của giáo dân trong Giáo Hội có thể được ví như những người đứng đường rỗi rải v́ không ai mướn, trong khi có nhiều việc phải làm cho vườn nho. Giờ đây, gia chủ (Đức Kitô và Giáo hội) bảo họ: cả các anh nữa, hăy đi vào làm vườn nho cho tôi!(Mt 20:3-7). Cả một thế hệ sau Vatican II, các giám mục mới đấm ngực thú tội là đă không dùng hoặc không dùng cho đúng mức tài năng và đặc sủng của giáo dân. Bước vào thiên niên kỷ thứ ba này, trong Giáo hội, không ai có thể ở rỗi răi mà không ra tay làm được việc cả. Đức Giáo hoàng đă nhắc lại lời nói của Đức Pio XII nói rằng giáo dân không chỉ thuộc về Giáo hôi, mà chính là Giáo hội! Nên họ tham gia vào thừa tác vụ tính của Nhiệm thể Đức Kitô, nghĩa là chia sẻ bản chất Tư Tế, Tiên tri và Vương giả của đầu là Đức Kitô, trong chiều kích làm men muối và ánh sáng giữa trần thế, như Vatican II đă dạy (HTTH số 34).
 

Như vậy mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Lễ, các sinh hoạt công đoàn, đ̣an thể là chúng ta tham dự chức linh mục chung của Chúa.
 

III- CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC: Bí tích Truyền Chức Thánh.
 

Trong khi chức linh mục chung của các tín hữu được thực hiện qua sự phát huy ân sủng của phép Rửa Tội trong cuộc sống đức tin, cậy và mến, sống theo Thần khí. Th́ chức linh mục thừa tác lại phục vụ cho chức linh mục chung quy về sự phát huy ân sủng của phép Rửa tội của tất cả các Kitô hữu. Chức linh mục thừa tác là một trong những phương tiện mà Chúa Kitô không ngừng sử dụng để xây dựng và dẫn dắt Giáo hôi của Ngài. Bởi vậy chức tư tế này được Ngài truyền đạt bằng một bí tích riêng tức là bí tích Truyền ChứcThánh. (Sách GLCG 1547).
 

Như vậy chức linh mục thừa tác là để phục vụ cộng đồng dân Chúa, tiếp tục chương tŕnh cứu độ của Chúa Kitô trong vai tṛ Tư tế trong lúc cử hành Thánh Lề, các Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, dẫn dắt dân Chúa qua giảng dậy và chủ chăn trong chức vụ Ngôn sứ và Quân vương theo vương quốc của Thiên Chúa là phục vu.
 

Như vậy trong con người của linh muc thừa tác có cả hai yếu tố thần linh và con người. Yếu tố thần linh là h́nh ảnh của Chúa Kitô một Alter Christus nghĩa là một Chúa Kitô khác. V́ là con người nên các linh mục cũng có tất cả những khiếm khuyết như trong thư gởi tín hữu Do Thái: “V́ chưng mọi thượng tế lấy giữa loài người th́ được đặt lo việc Thiên Chúa thay cho loài người, để tiến dâng lễ vật và hy sinh tạ tội, Ngài có thể xót thương những kẻ u mê lầm lạc, v́ chính Ngài cũng lâm cảnh yếu đuối tư bề, và v́ yếu đuối , do đó phải tế lễ đền tội cho dân thế nào, th́ cũng phải tế lễ đền tội cho ḿnh như vậy” (Do thái 5,1-

 

3).Trong bài “Linh mục, người của những mâu thuẫn “ của linh mục Pièrre (Vietcatholic) có nêu 5 điểm:
 

1/-Mâu thuẫn giữa bản thân yếu hèn của linh mục với sự cao cả của sứ mệnh:
Là con người bất toàn, nhưng phải thi hành những nhiệm vụ Thánh, chu toàn những công việc thiên liêng. Được xức dầu thánh hiến để thuộc về Chúa, nhưng vẫn phải sống giữa ḷng đời đầy những bất trắc và cạm bẫy. Là con người sống trên mặt đất này, nhưng bàn tay linh mục lại phải không ngừng vươn lên tới trời cao. Linh mục sống giữa thế gian, nhưng không thuôc về thế gian mà phải thuộc về Thiên Chúa. Linh Mục sống đẹp ḷng Thiên Chúa, nhưng cũng phải làm vừa ḷng con người. Linh Mục phải là cánh chim bay lên núi thánh, nhưng cũng phải gần gũi với từng con người yếu hèn.
 

2/- Mâu thuẫn giữa thực tại thiêng liêng và những giá trị vật chất.
Là người làm chứng cho những thực tại thiêng liêng, nhưng không thể phủ nhận sự cần thiết của những điều kiện vật chất mà đời sống đ̣i hỏi. Là người xây dựng Nước Trời trong ḷng anh em ḿnh, nhưng lại bị bao vây bởi những quyến rũ của trần thế. Là người phân phát của cải không hư nát, nhưng linh mục vẫn phải lệ thuộc vào những của cải chóng qua. Là con người mời gọi anh chị em tin tưởng vào Chúa quan pḥng Đấng nuôi sống từng con chim, chăm sóc từng cánh hoa ngọn cỏ, nhưng linh mục vẫn phải lo toan cho ḿnh nơi ăn chốn ở.
 

3/- Mâu thuẫn giữa sức mạnh và yếu đuối.
Mỗi ngày linh mục cầm trong tay, rước vào ḷng ḿnh Chúa Giêsu Thánh thể, Đấng là Sự Thật và là Sự Sống, nhưng vẫn phải đương đầu với những cám dỗ bất trung, bội tín. Là người phải có niềm tin chuyển núi dời non, nhưng đôi lúc vẫn thấy ḷng ḿnh đầy những nghi nan và ngờ vực. Là người giới thiệu Chúa cho người khác, nhưng nhiều lúc quờ quạng măi mà vẫn như không thấy Chúa đâu. Là người rao giảng yêu thương tha thứ, nhưng nhiều lúc linh mục cảm thấy phải trả giá quá đắt cho những đ̣i hỏi này. Là người hướng dẫn tâm linh, nâng đỡ kẻ khác nhưng không tránh khỏi những nguy cơ khiến ḿnh gục ngă. Là người thay quyền Chúa tha tội cho tội nhân, nhưng linh mục cũng cần được ơn tha thứ. Là người giới thiệu con đường giải thoát, nhưng linh mục vẫn sợ ḿnh không được ơn cứu độ.
 

4/- Mâu thuẫn những cái riêng tư và những cái chung.
Linh mục luôn ư thức rằng Chúa đ̣i hỏi phải vượt lên trên những ràng buộc của gia đ́nh và huyết thống để ḥa nhập vào một gia đ́nh rộng lớn hơn, nhưng linh mục vẫn là con người không có quyền sống ngược lại bổn phận hiếu thảo mà ḿnh rao giảng. Là con người được đặt lên v́ cộng đoàn, nhưng vẫn có cuộc sống riêng tư. Là con người được tách ra khỏi thế gian để lo việc của Thiên Chúa, nhưng linh mục vẫn cứ phải bận tâm với những công việc của đời này.
 

5/- Mâu thuẫn những cái từ bỏ và những sở hữu.
Là con người của mọi người, nhưng linh mục lại chẳng được giữ riêng ai cho ḿnh. Là người được gọi là bạn hữu của Thiên Chúa, được trao quyền lănh đạo cộng đoàn, nhưng vẫn phải sống như người tôi tớ phục vụ anh chị em ḿnh. Là người quản lư cả đoàn chiên, nhưng không được có con chiên nào là của riêng.
 

IV- LINH MỤC VÀ GIÁO DÂN.
 

Qua phép Thánh tẩy, toàn dân Thiên Chúa tùy theo phận vụ của mỗi người mà chu toàn bổn phận của ḿnh. Trước mặt Chúa dù là linh mục phổ quát (các tín hữu) hay linh mục thừa tác (chức thánh) đều b́nh đẳng như trong sách GLCG câu 873:
 

“Những sự khác nhau mà Chúa muốn đặt ra giữa các chi thể của Thân thể Ngài sẽ phục vụ cho sự hiệp nhất và sứ mạng của Giáo hội”. Bởi v́: “Trong Giáo hội, có những thừa tác vụ khác nhau, nhưng chỉ có một sứ mạng. Chúa Kitô đă ủy thác cho các tông đồ và các vị kế nhiệm các ngài nhiệm vụ giảng dạy, thánh hóa và cai quản nhân danh và do quyền của Chúa. Nhưng dự phần vào nhiệm vụ tư tế , ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô, các giáo dân cũng đảm nhận trong Giáo hội, và trên thế giới phần việc của ḿnh trong những ǵ là sứ mạng toàn thể Dân Thiên Chúa.”
Sau cùng, có các tín hữu của cả hai loại trên đây (giáo dân và giáo phẩm ) là những người, nhờ được tuyên khấn các lời khuyên của Phúc Âm, mà được thánh hiến cho Thiên Chúa và góp phần vào sứ mạng cứu vớt của Giáo hội theo cách riêng của họ.
 

Trong xă hội chúng ta đang sống, các linh mục thừa tác đang thiếu hụt tràm trọng như bà Mary Cook phụ tá mục vụ của giáo xứ St Mark , Drummoyne, Sydney. Ví các linh mục hiếm và quư như các chú gấu Panda, th́ vai tṛ của người giáo dân để thi hành các chức vụ linh mục chung như thăm viếng, đưa Ḿnh Thánh, phụng vụ Lời Chúa... càng ngày càng trở nên cấp bách và cần thiết hơn.
 

Giuse Nguyễn Văn Vỹ.
 

Đại Hội Ultreya 15-6-2005