HÀNH HƯƠNG VỀ LA VANG
 

Thời gian vút nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Thoáng cái mà ba tháng “trốn lạnh” sắp sửa trôi qua, đúng là “thời giờ thấm thoát thoi đưa...”. Thời gian trôi qua thật nhanh nhưng cũng thật chậm. Chậm khi ngồi trông ngóng từng ngày về gia đ́nh. Nhanh khi ngồi nghĩ lại những việc đă qua.
 

Để cho thời gian dài xa gia đ́nh bớt nhàm tẻ và sinh lợi ích nhiều hơn, tôi đă cố gắng xử dụng thời gian này bằng những cuộc hành hương. Có những cuộc hành hương lớn, và có những cuộc hành hương nhỏ. Có những cuộc hành hương về bên Chúa, cũng có những cuộc hành hương về bên Mẹ. Kể là nhiều, thế nhưng cuộc hành hương về bên Mẹ La Vang là đậm nét hơn cả. Đậm nét phần v́ yếu tố ngoại vi là Đại Hội tổ chức quy mô, vĩ đại quá. Nhưng đậm nét hơn là nhờ yếu tố tâm linh với những ơn lành và nhiều cảm nghiệm tốt đẹp.
 

Trước đây sự hiểu biết của tôi về La Vang rất giới hạn. Chỉ hiểu rằng linh địa La Vang mang đầy tính chất thánh thiêng. Trong hơn hai trăm năm qua, ơn phần hồn, ơn phần xác Mẹ đă ban không sao kể hết. Thật quư giá với những ơn ăn năn trở lại, đổi mới tâm hồn và cuộc sống… Và cũng không ít những linh hồn trở về bên Chúa qua ơn Mẹ dẫn dắt. Chính v́ vậy, tôi muốn được tham dự Đại Hội La Vang lần này như một cuộc hành hương bồi dưỡng đức tin. Tôi cầu xin Mẹ giúp tôi tiến bước trong cuộc lữ hành nơi trần thế. Tôi nghĩ có lẽ mọi người đến đây cũng trong tâm t́nh ấy, v́ truyền thống La Vang là như vậy, và hành động của họ đă minh chứng điều đó.
 

Theo truyền tụng th́ vào thời kỳ bắt đạo năm 1798, một nhóm người Công giáo gần đồi Dinh Cát thuộc mấy họ đạo như Cổ Vưu, Hạnh Hoa, Thạch Hăn đă chạy vào La Vang lánh nạn. Trong cơn nguy biến, lại bị hành hạ bởi bệnh tật và thiếu thốn cùng cực, họ đă tụ họp nhau lại dưới gốc cây đa cổ thụ để tha thiết cầu nguyện cùng Chúa, qua sự bầu cử của Đức Mẹ.
Một hôm trong lúc họ đang đọc kinh lần hạt, Đức Mẹ hiện ra trong ánh hào quang rực rỡ. Mẹ mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, hai bên có hai Thiên Thần đứng chầu. Họ nhận ra ngay là Đức Mẹ. Mẹ nh́n rất nhân từ, âu yếm, và khuyên nhủ họ vui ḷng chịu khó. Mẹ dậy họ hái lá cây quanh đó để nấu uống, sẽ lành mọi bệnh tật. Mẹ cũng hứa: “Mẹ nhận lời các con kêu xin. Và từ đây về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ư nguyện”.
 

Quả như lời cha Morineau, vị linh mục rất có ḷng sùng kính mến Đức Mẹ, và là người đă xây cất ngôi thánh đường La Vang: “Ở các nơi, Đức Mẹ tự đến t́m người ta. Tại La Vang, bổn đạo kéo Đức Mẹ đến với ḿnh!”.
 

Ngày nay con cái Mẹ khắp nơi, gồm cả lương lẫn giáo, biểu lộ việc “kéo Đức Mẹ đến với ḿnh” bằng cách vượt muôn ngàn khó khăn để về bên Mẹ. Càng ngày càng nhiều người hành hương đến tận linh địa, như lần t́m về quê Mẹ. Họ đến mọi lúc khi có thể, đặc biệt trong những dịp Đại Hội th́ đông vô kể. Có đến tận nơi, xem tận mắt mới cảm nhận được số đông quá mức như vậy. Đông, đông lắm và tôi chỉ biết thốt lên: “Trời, người đâu mà đông như rừng!”. Số lượng càng đông, càng nh́n thấy sức mạnh của ḷng tin.
 

Tôi tới La Vang chiều ngày 12, tức trước một ngày, mà người đă đông nghẹt. Lối vào linh địa bế tắc v́ lượng xe to nhỏ được thuê bao lũ lượt đổ vào. Bên cạnh đó, xen lẫn với đạo quân xe ôm đông đảo, là đoàn người gồng gánh đi bộ trên con đường nhỏ hẹp. Tất cả các hộ dân phía ngoài đều tận dụng cơ hội cho thuê nơi ở và băi đậu xe. Mất tiền thuê với điều kiện ăn ở hết sức hạn hẹp và thiếu thốn, nhưng họ vẫn vui vẻ chấp nhận.
 

Trong linh địa chẳng c̣n chỗ trống, những căn lều nhựa đủ màu sắc mọc lên khắp nơi. Có những lều bạt lớn do ban tổ chức dựng lên, nhưng cũng không thiếu những căn lều chỉ là tấm bạt nhỏ căng đỡ để che nắng tránh sương. Quan sát tôi thấy phần đông khách hành hương là những người nghèo khó. Nhiều gia đ́nh, cha mẹ vợ chồng con cái bồng bế nhau đi xe đ̣ cho đỡ tốn, và rồi lại bồng bế nhau lội bộ từ quốc lộ vào tới chân Mẹ. Mệt mỏi nhưng bước chân họ vẫn rộn ră niềm vui, những bước chân hành hương thực sự tràn đầy niềm tin. Không đủ tiền thuê nhà ở, họ căng bạt chung quanh lễ đài hoặc ra măi tận ngoài xa. Ăn cơm nắm, uống nước lă, nhưng họ chẳng quản ngại mấy ngày đêm thiếu thốn mệt nhọc trên đất Mẹ. Nhiều người không c̣n chỗ hay không có vật dụng, họ nằm la liệt ở những nơi có thể. Đêm về, những con đường chính cũng được tận dụng gần kín, đi lại chẳng mấy dễ dàng.
 

Những người dân nghèo sống rộng lượng quá. Họ rộng lượng như đức tin mạnh mẽ của họ. Tiền xe lẫn tiền ăn uống dẫu có tằn tiệm cách mấy cũng là sự cố gắng, hy sinh phi thường. Cuộc sống đầy những khó khăn, nhưng họ chẳng hề so đo tính toán. Tương lai mịt mờ, nhưng họ vững ḷng phó thác cho Chúa và t́nh yêu dịu hiền của Mẹ. Có thể là sự quan tâm săn sóc của Mẹ tại tiệc cưới Cana đă thấm sâu vào tâm hồn họ. Đời họ chẳng khác ǵ cuộc đời của Thánh Gia ở Nazareth thuở nào. Nghèo, chẳng mong sang giàu, chỉ mong vâng theo ư Chúa cho trọn.
 

Hỏi thăm ra, tôi thấy hầu hết họ là những người thường xuyên đi tham dự. Cứ “tới hẹn lại lên”, ba năm lại về. Họ đă từng đi th́ hẳn đă biết những khó khăn, thiếu thốn và những bất trắc có thể xảy đến. Đă thế, năm nay miền Trung đang bị ảnh hưởng bởi áp thấp nhiệt đới, báo hiệu một khí hậu đầy đe dọa. Vậy mà họ vẫn không chùn bước, cứ một ḷng tin tưởng. Đêm 13 rạng 14, một cơn mưa nhỏ thoáng qua như thử ḷng con cái. Tới thánh lễ ban sáng, nhiều đám mây đen u ám đưa đến báo động một trận mưa lớn, và mưa lất phất vào lúc giữa lễ. Nhiều người đă che dù, khoác áo mưa. Đôi người x́ xào lo ngại, pha lẫn đâu đó tiếng trấn an: “Lo ǵ. Yếu ḷng tin, cầu nguyện đi”. Và như là phép lạ, trời đổi gió thổi hết mây đen và mưa dứt hạt. Trời lộng gió mát mẻ, cờ Đại Hội và cờ 25 địa phận phất phới tung bay. Mọi người thơ thới hân hoan với ơn Chúa và Mẹ tuôn tràn.
 

Đúng vậy, mấy ngày tại linh địa tôi thấy nhiều sự lạ. Tôi tin đó là ơn trên thương ban.
 

Xưa rầy ai cũng sợ cái nóng hè kinh hồn của đất Quảng Trị, thế mà khí hậu khá tốt trong ba ngày Đại Hội, gió thường thổi mát dịu. Nếu không vậy th́ ở dưới những lều bạt kia ai chịu cho nổi? Với điều kiện vệ sinh thiếu thốn, đồ ăn vương văi mà không hề thấy ruồi thấy kiến, đêm về cũng chẳng có muỗi vo ve! Anh hưởng băo ngoài Bắc, trời đang mưa dông khắp nơi, nhưng La Vang vẫn tạnh ráo. Tôi cứ tự nghĩ, nếu mà sáng hôm ấy mưa lớn th́ Đại Hội sẽ ra sao? Mọi người lẫn đồ đạc bị ướt hết, sân cỏ lầy lội th́ sao tiếp tục ở? Thế mà mọi sự b́nh an vô sự. Chắc chắn ngay từ trước đó không những chỉ ban Tổ Chức Đại Hội, mà tất cả mọi người đă làm “Palanca” xin Mẹ can thiệp. Mẹ đă nhận lời ban ơn theo ư nguyện như lời đă hứa khi xưa.
 

Giữa rừng người chen chúc hẳn phải nhiều chèn cựa, ẩu đả đôi co. Thế mà tôi nh́n thấy đầy sự yêu thương bác ái thắm t́nh anh chị em một nhà. Đêm cuối cùng khó ngủ, tôi dậy đi chầu Thánh Thể cùng tới linh đài viếng Đức Mẹ, rồi lại rảo bước tham quan. Người nằm chen chúc như cá hộp, san sát khắp nơi. Điều đó cho tôi nhận thấy, họ đă nhường nhịn nhau từng tấc đất để mọi người có chỗ đặt lưng. Họ mời nhau chỗ nằm chỗ ngồi, dù chẳng quen biết. Tôi đă được chứng kiến cảnh ba bà cụ cùng ngủ trên một tấm bạt. Hai bà quê miệt Kiên Giang măi tận cùng phía Nam của đất nước, và một bà quê Bắc Giang tuốt ngoài miền Bắc xa xăm. Từ từ ngữ đến giọng nói khác biệt nhau quá nên đâm ra cảnh “ông nói gà, bà nói vịt”. Các cụ nói chuyện lung tung x̣e đến nỗi cụ bà miền Nam lắc đầu cười nói: “Tôi có nói chuyện với bà cả năm nữa chắc vẫn không hiểu!” Thế mà các cụ vẫn ân cần thương mến chăm sóc cho nhau. Vui nhưng cảm động thật. Nơi linh địa vẫn c̣n ngọn tháp cổ mang đầy dấu tích chiến tranh, loang lổ tan hoang đầy vết bom đạn. Nhưng đó là quá khứ. Giờ này nơi đây là đất của ḥa b́nh, không c̣n bóng dáng chiến tranh thù hận. Trong khung cảnh này, tôi cảm nhận được cảnh thiên đường tại thế.
Trong rừng người hành hương này bao gồm đủ mọi thành phần trong xă hội. Giữa những cụ già lụ khụ đang tuổi cuối đời, không thiếu những em bé hồn nhiên và những khuôn mặt trẻ trung rực rỡ mùa xuân. Rải rác trong số khách hành hương thân thể toàn vẹn, mạnh khỏe, c̣n điểm thêm những anh chị em khuyết tật. Xen lẫn những nét cương nghị của giới gia trưởng, là những nét dịu hiền của giới hiền mẫu. Họ thuộc đủ mọi giai cấp, ngành nghề... Ngoài ra đó đây c̣n khuôn mặt những người anh chị em bên lương thân ái. Họ có thể xa lạ với những nghi thức, những lời kinh, nhưng trong ḷng họ đầy ắp ḷng sùng kính Đức Mẹ.
 

Tuy bên ngoài khác nhau, nhưng bên trong tất cả là một khối hiệp nhất. Mọi người tạo thành một cộng đoàn hành hương, cộng đoàn đức tin, cùng hy sinh chịu khổ và cầu nguyện.
Dù mỏi mệt, cộng đoàn đă sốt sắng tham dự Thánh Lễ đông đảo. Cả bốn Thánh Lễ, công trường Mân Côi chật cứng như nêm, chưa tính bên ngoài người đứng khắp nơi. Không kể ngày đêm, họ chầu Thánh Thể liên tục, sốt sắng lần chuỗi Mân Côi đúng theo như chủ đề Đại Hội là sống theo gương “Đức Maria, Người Nữ Thánh Thể”. Đẹp biết bao đông đảo tín hữu hành hương xếp hàng nối đuôi nơi những ṭa giải tội để lănh nhận bí tích Hoà Giải. Số lượng ba trăm linh mục dư sức cho mọi người làm ḥa với Thiên Chúa trong suốt Đại Hội. Trên linh đài Mẹ không một lúc nào c̣n chỗ trống, dẫu là nửa đêm khuya khoắt. Con cái Mẹ lên đây với tất cả tấm ḷng thành. Đến bên Mẹ rồi, chẳng ai c̣n muốn xa rời. Đến để tâm sự trút xả cơi ḷng, để xin ơn phù trợ tiếp giúp. Ch́m đắm trong bầu khí này, tâm hồn tôi như vút bay cao...
 

Rồi ba ngày cũng qua đi, mọi người lại ra về với đời sống thường nhật. Một thác người từ từ di chuyển ra khỏi khu vực thánh địa. Chậm và rất chậm v́ nghẽn lối. Nhiều người luyến tiếc nh́n lên trời xanh, theo dơi hàng ngàn bong bóng bế mạc Đại Hội đang bay cao, như nâng hồn lên tới Chúa. Nhiều người nh́n lại tháp cổ Vương Cung Thánh Đường La Vang, nơi hàng ngàn con chim cút và” manna” bằng giấy được thả bay khắp linh địa, như nhắc nhở t́nh yêu Thánh Thể và sứ mạng sai đi.
 

Tôi cám ơn Mẹ về những ơn lành Mẹ ban, cả ơn phần hồn lẫn ơn phần xác. Có những ơn Mẹ ban do lời cầu xin, nhưng cũng có nhiều ơn tôi nhận mà chưa kịp cầu xin. Mẹ đă thay đổi hoàn toàn chương tŕnh đi tới La Vang của tôi, để tránh cho tôi những khó khăn không dự kiến trước. Nhờ vậy tôi cảm nghiệm được ḷng từ ái của Mẹ khi xưa tại Cana cũng như tới muôn đời. Mẹ hiểu những nhu cầu thật của con cái Mẹ. Thật là cuộc hành hương hồng ân ghi sâu trong tâm tưởng, khác xa những cuộc du lịch chỉ là “chợt đến lại đi”.
Rời xa linh địa tới nay đă sáu tuần lễ nhưng tôi vẫn thường hồi tưởng lại, coi như những cuộc “hành hương hàm thụ”. Tuy chỉ là hàm thụ, nhưng tôi vẫn cảm thấy êm đềm vui sướng như đang ngồi dưới chân Mẹ. Chiều hôm nay, tôi muốn đeo cho ḿnh một bông hồng đỏ trên ngực và nhẹ nhàng khẽ hát: “Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không? Biết ǵ? Biết là con yêu Mẹ hay không?...”
 

Tom
 

(Long Khánh 28/9/05)