TÂM T̀NH TẠ ƠN

 

“Anh em hăy luôn vui mừng cảm tạ Chúa Cha” (Cl 1,12).
 

Người Việt Nam luôn hănh diện có bốn ngàn năm văn hiến với một nền văn hóa đặc thù. Người Việt Nam được giáo dục để phát triển nhân cách, mà ḷng biết ơn là một điểm quan trọng.
Ngay thuở tiểu học, học sinh được học hỏi những gương sáng trong sách giáo khoa, được dạy bảo kỹ lưỡng trong những giờ Đức Dục và Công Dân Giáo Dục. Cho dẫu không được cắp sách đến trường, người Việt Nam cũng được học hỏi qua nền văn chương b́nh dân là những truyện cổ tích, và nhất là những câu tục ngữ ca dao như:
 

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng”

 

và “uống nước nhớ nguồn”, chứ đừng học thói “được chim bẻ ná, được cá quên nơm” hay “có trăng, phụ đèn”...
 

Ngoài những ân nhân trong cuộc sống, chúng ta được giáo dục đặc biệt nhớ ơn tổ tiên ông bà cha mẹ:

“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một ḷng thờ mẹ kính cha,
Cho tṛn chữ hiếu mới là đạo con”.

Để “cho tṛn chữ hiếu”, dù có nghèo khó cũng phải:

“Đói ḷng ăn bát cháo môn,
Để cơm nuôi mẹ cho tṛn hiếu trung” hay:

 

“Khó nghèo củi núi rau non,
Nuôi cha nuôi mẹ cho tṛn nghĩa con”.

Ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ là cao quư chẳng ǵ báo đáp được, huống chi là những hồng ân trời biển bao la Thiên Chúa đă thương ban cho con người. Nhiều lắm, cụ thể là một số ơn:
 

Trước hết là ơn tạo dựng: Trong suốt đoạn 1, Sách Sáng Thế đă tŕnh thuật Thiên Chúa việc tạo dựng nên vũ trụ và con người. Khi đă tạo dựng sẵn sàng mọi thứ và thấy mọi sự là tốt đẹp, Người mới tạo dựng nên con người, để con người hưởng dụng. Nhờ vậy chúng ta mới có mặt trên mặt đất hôm nay, v́ Chúa đă “chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời mà lại sinh ra con, cho con được làm người...”. Từ đó chúng ta mới có xă hội, và lại nhận được biết bao ân nghĩa Chúa ban qua h́nh thức xă hội này.
 

Cho dù không đọc trong sách Sáng Thế, nhưng chỉ nh́n vào vũ trụ không gian, cũng đủ nh́n thấy những hồng ân mà chỉ có “Ông Trời” mới cho được. Đó là trật tự kỳ bí của vũ trụ, bầu không khí mênh mông để hít thở tự do, động vật và thực vật ê hề để làm lương thực nuôi sống, cảnh vật xinh đẹp để ngắm nh́n cho đời thêm tươi... Vậy mà đă có bao nhiêu người nhận ra ơn của Đấng Tạo Hóa? Chỉ khi nào “ngắc ngư con tầu đi” hay bị ch́m xuống nước, kẹt trong khói mịt mù không c̣n khí để thở, lúc đó người ta mới nghĩ đến Ông Trời!
 

Sau nữa là ơn cứu chuộc: Tổ tông loài người đă phạm tội v́ kiêu ngạo “muốn có quyền năng như Thiên Chúa và không vâng phục”, nên bị đuổi ra khỏi địa đàng, bị đau khổ và bị chết. V́ yêu thương loài người quá đỗi, Thiên Chúa không đành đoạn buông xuôi, nên đă cứu chuộc loài người bằng chính Con Một dấu ái của Người. Nhờ cái chết của Ngôi Hai Thiên Chúa, không những chúng ta được sống, mà c̣n sống sung măn trong t́nh yêu Thiên Chúa Ba Ngôi, và được trả lại ngôi vị cao quư làm con Thiên Chúa.
Ơn cứu mạng là ơn mọi người rất coi trọng. Đọc trong truyện kiếm hiệp, người ta sẵn sàng làm mọi việc để đền đáp nghĩa ân này, có khi dám hy sinh cả mạng sống để cứu lại ân nhân. Với ơn cứu chuộc này, chúng ta nào biết lấy chi báo đền?
 

Rồi ơn nuôi dưỡng và phục sinh: Biết được con người yếu đuối và để bày tỏ t́nh yêu cao vời, Chúa Giêsu đă “ở lại với loài người mọi ngày cho đến tận thế” qua bí tích Thánh Thể. Chúa đă trở nên lương thực nuôi dưỡng linh hồn loài người với lời hứa chắc nịch như đinh đóng cột: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,58). Chúa đă trở nên của ăn đàng cho chúng ta trên đường lữ thứ trần gian, con đường chiến đấu cam go để về nhà Cha. Bánh này cũng là bảo chứng cho chúng ta được phục sinh với Ngài, sống cuộc sống vĩnh cửu.
Song song với Thánh Thể, Chúa c̣n để lại cho loài người Lời Hằng Sống. Lời Chúa vừa là của ăn thiêng liêng, vừa là kim chỉ nam cho chúng ta tiến bước: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105). Lời Chúa đă xác định: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6).
Để có một việc làm tốt kiếm tiền cho cuộc sống, chúng ta đă hết ḷng nhớ ơn ông chủ và những người giúp đỡ. C̣n Chúa ban cho lương thực cách nhưng không th́ không lẽ chúng ta lại vô tâm vô t́nh không biết ơn?
 

Quả là hằng ngày chúng ta vẫn tạ ơn Chúa khi đọc kinh cám ơn. Được ơn nào, dù nhỏ dù lớn, chúng ta vẫn thường cảm tạ Chúa và Đức Mẹ. Đôi khi kèm với lời cám ơn cũng có chút lễ vật. Đơn sơ như dâng một bó hoa, một hộp nến, hay trọng thể hơn th́ xin một thánh lễ tạ ơn... Đây là những việc rất thường trong đời sống đạo.
 

Chính v́ rất thường nên chúng ta dễ không ư thức trong việc tạ ơn. Có thể chúng ta làm một cách máy móc có tính cách thủ tục, hay như một h́nh thức trả nợ cho xong mà mất đi cái tâm t́nh. Chúa luôn “thèm ḷng” chứ không “thèm thịt”: “Ta muốn ḷng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13). Một của lễ cho dù thật nhỏ nhưng kèm theo một trái tim, th́ giá trị gấp trăm lần những thỏi vàng vô tri vô giác.
Tất cả những hồng ân Chúa ban đều phát xuất từ t́nh yêu. Tâm t́nh tạ ơn phải là tinh thần cho đi và nhận lănh của t́nh yêu đích thực, bởi nó phản ảnh t́nh yêu bao la của Thiên Chúa. Chúa muốn “t́nh yêu đáp đền t́nh yêu”. Khi yêu, cũng chính là lúc chúng ta thực thi sự biết ơn của t́nh yêu đích thực ấy, và nhờ đó sự hiện hữu của chúng ta nên trọn vẹn hơn, bởi v́ chúng ta đang đi đúng đường của t́nh yêu mà Thiên Chúa đă đặt trong trái tim ḿnh.
 

Tạ ơn ân nhân cách tốt đẹp nhất là làm theo ư muốn của họ. Chúa muốn chúng ta trở thành trung gian và chia sẻ những hồng ân cho người khác. Chúa không ở đâu xa hay chỉ ngự nơi những đền thờ cửa đóng then cài, mà Ngài ở nơi những người anh chị em chúng ta gặp hằng ngày trong cuộc sống, nhất là nơi những người nghèo khổ, đói khát, rách rưới, bệnh tật, cô đơn, không nhà.... Và như Đức Kitô đă dạy, mỗi lần chúng ta chia sẻ, giúp đỡ những người này là chúng ta đă làm cho chính Ngài vậy (Mt. 11,42).
 

Rồi trong Phúc âm thánh Gioan (9: 1-38), Chúa Giêsu chữa người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt. Anh tạ ơn Chúa và t́nh nguyện theo Ngài để tỏ ḷng biết ơn. Những người Pharisêu thay v́ ca ngợi và tạ ơn quyền năng của Chúa, họ lại quay ngược lại kết án Chúa là dùng phép quỷ để trừ quỷ, và kết án anh mù cũng như cha mẹ anh là những kẻ tội lỗi.
 

Mẫu mực tạ ơn cao đẹp nhất vẫn là gương của Đức Kitô, Thầy Chí Thánh. Tạ ơn t́nh yêu Chúa Cha, Thầy đă vâng lời trở thành của lễ hy tế. V́ thế, để tạ ơn đẹp ḷng Chúa Cha, chúng ta năng tham dự thánh lễ. Hợp với Thầy Chí Thánh và toàn thể Giáo Hội, chúng ta cùng tạ ơn Chúa Cha, Chủ tể càn khôn “Lạy Cha, Cha thật là Đấng Thánh, và muôn vật Cha đă tạo thành đều phải ca ngợi Cha” (Kinh tạ ơn III), là nguồn mạch mọi hồng ân “Cha rộng ban mọi ơn lành cho thế gian” (kinh tạ ơn III), nguồn mạch sự sống (Kinh tạ ơn IV), nguyên lư của ơn cứu độ, Đấng ban sự sống và thánh hóa (Kinh tạ ơn III, IV). Tiếp nối lời kinh chúc tụng Do-thái-giáo, Giáo Hội kể ra những kỳ công của Thiên Chúa qua ư định tạo dựng và cứu chuộc của Người (Kinh tạ ơn II, IV). Trong “hy tế ngợi khen” này, Giáo Hội thưa với Chúa Cha nhân danh toàn thể vũ trụ được tạo thành, bánh và rượu, hoa quả của ruộng đất và công lao vất vả của con người được dâng lên Chúa Cha trong đức tin như một lời tạ ơn và một hy lễ. Hy lễ mà Giáo Hội dâng lên Chúa Cha vừa là hy lễ của chính Chúa Con vừa là hy lễ của Giáo Hội “Nguyện xin Cha đoái nh́n hiến lễ của Hội Thánh và nhận đây chính là hy lễ Con Cha đă dâng tiến” (kinh tạ ơn III).
Thánh lễ kết thúc, trước khi ra về, chúng ta đồng thanh “Tạ ơn Chúa”. Lời tạ ơn này c̣n phải vang vọng măi trong suốt cuộc đời, ở mọi nơi mọi lúc v́ đời ta là một thánh lễ kéo dài...
 

Khi đọc đoạn Phúc Âm thánh Luca kể câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho mười người phong cùi (x Lc 17, 11-19), mà chỉ có một người trở lại “sấp ḿnh dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn”, chúng ta thường kết án chín người kia là hạng người vô ơn, là phường “ăn cháo đá bát”. Nhưng nh́n lại chặng đường đă qua, chúng ta không khỏi giật ḿnh v́ đă sống vô ơn nhiều quá. Nhiều lần chúng ta cũng chính là một trong chín người họ. Chúng ta chỉ biết xin. Xin không được trọn ư nguyện th́ than trách. Xin được ơn rồi th́ lại cứ xin tiếp xin hoài...
 

Bên Hoa Kỳ có một truyền thống Tạ Ơn thật đẹp. Khởi đầu từ năm 1623 là năm những người di dân đầu tiên đến Hoa Kỳ lập nghiệp trúng mùa, sau hai năm mất mùa và đói kém. Họ dâng lễ tạ ơn Đấng Toàn Năng đă đổ tràn nhiều ơn phước qua mùa gặt. Từ đó, ngày lễ Tạ Ơn đă trở thành truyền thống của người dân Hoa Kỳ. Quốc Hội cũng như Tổng Thống Hoa Kỳ đă nhiều lần công bố lễ Tạ Ơn là Ngày Lễ của cả nước: Nghị Hội Đại Biểu ngày 01-11-1777, Tổng Thống George Washington ngày 19-02-1795, và Tổng Thống Abraham Lincoln ngày 03-10-1863. Từ năm 1863, ngày Thứ Năm sau cùng trong tháng 11 được chọn làm ngày lễ Tạ Ơn trên toàn quốc Hoa Kỳ. Sau lễ Thanksgiving tạ ơn được mùa là lễ Giáng Sinh, để tưởng nhớ và tạ ơn Thiên Chúa đă cho Con Một của Ngài xuống thế làm người để chuộc tội thế gian.
 

Giờ đây đang trong mùa Vọng, chuẩn bị tâm hồn để đón mừng Đấng Cứu Thế, cũng là lúc thật tốt để chúng ta nh́n lại ḷng biết ơn Thiên Chúa và t́m lấy cho ḿnh một tâm t́nh tạ ơn nào cho thích đáng. Trong tâm t́nh sám hối “quanh co uốn cho ngay, gồ ghề san cho phẳng”; với biết bao hồng ân Chúa ban, chúng ta hăy thực thi lời nhắn nhủ của thánh Phaolô: “Anh em hăy luôn vui mừng cảm tạ Chúa Cha” (Cl 1,12). Đây cũng là cách để cho chúng ta có thể hân hoan ḥa chung tiếng hát với các thiên thần:
 

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
B́nh an dưới thế cho người thiện tâm”.
 

Bản Tin tháng 12