HAI KHÍA CẠNH - MỘT CUỘC ĐỜI
 

Cư Sĩ.
 

Đến ngày hôm nay th́ mọi sự đă ḥan tất. Có chăng chỉ là phần hậu sự và nghi lễ an táng để đưa thi hài chàng thanh niên trẻ tuổi nhưng vắn số về nơi an nghỉ cuối cùng. Hai người Việt Nam đă qua đời mà Cư Sĩ tôi quen một người này và biết một người kia - chết cách nhau đúng 28 ngày. Chị Bảo Hoàng một người phụ nữ được đông đảo người Việt tại Canberra biết đến vào những ngày cuối thập niên 70s và đầu thập niên 80s. Cư Sĩ tôi biết đến chị qua những lớp “Văn hóa & Đời sống mới” do Bộ Di trú tài trợ để giúp cho những người tỵ nạn mới đến Úc được am hiểu hơn về cung cách sống ở đất Úc này. Những lớp học vào buổi chiều tại Griffin Center c̣n ghi lại trong tôi những kỷ niệm vui khi nghe chị kể về những cậu ba Sài g̣n sáng sáng diện bộ đồ ngủ “pyjamas” tàn tàn xuống phố ngồi uống cà-phê sáng mà chẳng ai thấy ǵ là dị hợm. Có khi người ta c̣n vị nể là con nhà giàu có bát ăn bát để, ăn trắng mặc trơn không phải làm ǵ động đến móng tay nên lúc nào cũng thư thái ra vào trong bộ đồ may như kiểu đồ ngủ. Nhưng sang đến đây mà đánh bộ “pyjamas” ra phố dân Úc nó cười cho thúi đầu! Cái cấm kỵ thứ hai là không bao giờ lê đôi dép ngủ (sleeper) ra ngoài đường, chẳng thà đi chân không ra đường mà không ai cười. Cái xứ sở ǵ mà có những tập tục khác người như thế. Nhưng dần dà những người tỵ nạn thế hệ đầu tiên cũng làm quen với cuộc sống nơi xứ sở dễ yêu dễ mến và hiền ḥa này. Cư Sĩ tôi c̣n biết chị là người đàn bà rất can đảm. Trong những ngày chị c̣n làm thông dịch viên trong Ban Thông Dịch, có lần phiên ṭa NSW có xử một tay anh chị rất sừng xỏ ở Sydney là “Nine Bananas”. Cả tiểu bang Sydney không biết bao nhiêu là Thông dịch viên vậy mà đụng chuyện này ai cũng chắp tay xá dài và chạy xa. Cuối cùng ṭa án Sydney phải mời Thông dịch viên trên Canberra xuống giúp. Người thông dịch viên can đảm đó không ai khác hơn là chị Bảo Hoàng. Những năm gần đây Cư Sĩ tôi có nghe biết về bệnh t́nh của chị nhưng cũng chỉ biết cầu nguyện cho chị và thăm hỏi chị trong những lần gặp chị tại những cuộc hành hương Đền Các Thánh Tử Đạo, Hang đá Đức Mẹ tại Galong và những buổi đọc kinh Tôn Vương tại các gia đ́nh quen thuộc trong Cộng đoàn. Tôi cũng ngại không dám đường đột hỏi đến căn bệnh ung thư chị đang mang. Lần cuối nghe được tin qua những người bạn trong Phong trào cho biết chị chỉ c̣n sống được 2 tháng ngắn ngủi. Chị đă can đảm chấp nhận và b́nh tĩnh chuẩn bị cả phần đạo lẫn phần đời cho sự ra đi về cơi vĩnh hằng. Chị c̣n tỉnh táo để bàn về đám tang của chị với Thánh Lễ an táng được tổ chức tại họ đạo Farrer với phần Phụng vụ nửa tiếng Việt, nửa tiếng Anh với những bài Thánh ca chị ưa thích. Tôi nghe xong cứ chần chừ không biết có nên mạo muội đến thăm chị lần chót? Hai ngày sau Cư Sĩ tôi nghe tin chị đă an b́nh ra đi. Nghe kể lại, buổi chiều đó tắm xong chị cảm thấy ớn lạnh. Jeff, người chồng của chị đă lấy cái chăn cuốn và ủ chị lại trong ṿng tay như muốn truyền hơi ấm và sức sống. Một lát sau chị thiêm thiếp yếu dần và nhẹ nhàng ra đi. Một cái chết đến thật êm ả và lành thánh.
 

Người thanh niên Việt Nam có cái tên thật văn vẻ và thư sinh - Nguyễn Tường Văn. Được sinh ra trong một hoàn cảnh khắc nghiệt tại trại tỵ nạn Thái Lan vào năm 1980 với người em trai song sinh. Mẹ của Văn đă đến Úc và lập gia đ́nh với một người chồng khác vào lúc Văn được 7 tuổi. Tháng 11 năm 2002, người cha ruột của Văn từ Mỹ đă t́m sang tới Úc để thăm 2 người con trai, một cuộc hội ngộ giữa ba cha con sau 22 năm trời xa cách. Đau đớn thay, một tháng sau đó Văn bị bắt với 400 gram bạch phiến trên người tại phi trường Changi trên chuyến bay từ Campuchia về lại Úc.
 

Trong lá thư tuyệt mệnh gửi lại cho mẹ và cho những người thân Văn cho biết đă t́m thấy ư nghĩa của cuộc sống khi đang chờ đợi cái chết đến. Thật là lạ kỳ khi sự cảnh tỉnh và thay đổi cuộc sống về tâm linh của người thanh niên này được khởi đầu bằng bài hát “Ave Maria”. Bài hát này do một Linh mục Tuyên úy Việt Nam là cha Văn Giang làm việc tại trại tù Changi đă hát trong những Thánh lễ (?) hay những buổi nguyện kinh tại khám đường. Bài hát đă gây nhiều cảm xúc v́ chính Văn cảm được nỗi đau đớn và trống vắng của người con thiếu vắng t́nh mẫu tử trong những ngày lao tù. T́nh cảm mẫu tử thiêng liêng đă nở rộ trong con người chàng trai khi thấy Mẹ Maria đẹp diễm kiều được miêu tả trong bài Thánh ca là người Mẹ dịu dàng xinh hơn muôn phụ nữ và tươi hơn muôn ngàn hoa. Văn đă nhận ra Mẹ Maria như một niềm ủi an vô biên trong cái thế giới nhỏ bé hạn hẹp của chấn song sắt đó. Mẹ đến soi sáng, cứu vớt những tâm hồn lầm đường lạc bước, những kẻ tử tội đang chờ chết. Chàng thanh niên tên Văn đó đă chịu phép rửa tội để được tái sinh trong nguồn ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế con Mẹ. Đă nhận Mẹ Thiên Chúa làm Mẹ trong những ngày ngắn ngủi c̣n lại trên chốn dương trần. Món quà Mẹ trao tặng đứa con dại khờ là một tràng chuỗi Mân Côi. Một món quà vô giá cho chàng thanh niên đặc biệt yêu mến Mẹ đến giờ phút chót c̣n mấp máy “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời ...”.
 

Cái chết của Văn gây nhiều sự xúc động cũng có, bất b́nh cũng có không chỉ trong cộng đồng người Việt tại Úc mà cả người dân Úc và những nước khác trên thế giới. Khi trực diện với cái chết ít người có sự can đảm để chấp nhận nó. Nhất là đối với chàng thanh niên mới 25 tuổi c̣n đang tràn trề nhựa sống, c̣n nhiều ước vọng và đam mê trong cuộc đời. Thế mà Văn đă can đảm chấp nhận cái chết không lời oán than trách móc. Trong là thư gửi tổng thống Singapore là ông Nathan, Văn đă viết với tấm ḷng chân thành sám hối “Tôi đă t́m gặp được Thiên Chúa trong những ngày chờ đợi cái chết đến. Tôi ân hận về những việc tôi đă làm và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những ǵ tôi gây ra...”. Thật là khí khái! Thật là can đảm!
 

Ôi những người thợ làm vườn nho cho Thiên Chúa, Cư Sĩ bỗng nhận ra một điều tuy không mới mẻ ǵ nhưng giống như người mù vừa được mở mắt. Một người như chị Bảo Hoàng với tuổi thọ trên 60 năm và đă phục vụ nhiều năm trong vườn nho của Ngài - so sánh với Tường Văn mặc dù chỉ hưởng dương có 25 tuổi nhưng đă được Thiên Chúa kêu mời làm người thợ vườn nho cho Ngài trong thời gian ngắn hạn. Tay nghề tuy chưa vững, tŕnh độ hiểu biết về Thiên Chúa chưa thâm sâu, kinh sách chưa thuộc, chưa có thời giờ nhiều để lập công nhưng Thiên Chúa là Đấng Chí Công cũng đă trả cho người thợ trẻ vào học việc này số tiền là 1 đồng tương xứng với công lao.
 

Riêng Cư Sĩ tôi mang tiếng là “sống lâu nên lăo làng” ù ù cạc cạc, cứ “sáng vác ô đi, tối vác ô về”. Ngày ngày chỉ biết thụ động vác cuốc xẻng đi làm vườn mà không biết có cuốc được cuốc nào ra hồn chưa? Mang tiếng là thợ trong nghề lâu năm mà lè phè “một nhát đến tai, hai nhát đến gáy” kiểu này th́ ai dám mướn? Không biết có được Chủ Vườn trả cho 1 đồng nào tương xứng hay chỉ nuôi cơm không là quư rồi! Không khéo suy tính lại mà để cuộc đời đi đoong th́ thật là công “công cốc”! Mất cả ch́ lẫn chài? Phen này th́ Cư Sĩ tôi dốc ḷng chừa và hứa với Thầy là làm vườn cho Thầy đàng ḥang không đẹp không ăn tiền và can đảm nhận trách nhiệm làm đến nơi đến chốn chứ không dám vừa làm vừa chơi nữa!

“Ai ơi bưng bát cơm đầy”
“Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”.

Ngày mai trời nắng to đi làm vườn chắc chắn là nóng bức cháy xém mặt mày là cái chắc! Nhưng cứ nghĩ đến 1 đồng tiền nugget từ tay Thầy là bao nhiêu cái khốn khó lại tiêu tan như những cơn mây nhẹ trên bầu trời. Cố lên Cư Sĩ nhé!