HIẾN CHẾ TÍN LƯ VỀ MẠC KHẢI “DEI VERBUM”
 

 

Bản Tin tháng 3

 

Tháng trước, để tiếp nối với hồng ân nơi “Bàn tiệc Thánh Thể” của năm 2005, chúng ta đă học hỏi qua chủ đề “Bàn tiệc Lời Chúa”. Lời Chúa chính là Lời mà “do ḷng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đă muốn mạc khải chính ḿnh và tỏ cho biết mầu nhiệm của ư muốn Ngài (x. Ep 1,9); nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể”.
Đó là xác định khởi đầu chương 1 của Hiến chế tín lư về Mạc Khải (MK), “một trong những văn kiện quan trọng nhất của Công đồng về giáo lư cũng như về mục vụ. Về giáo lư, Hiến Chế nhắc nhở chúng ta nội dung đức tin hết sức phong phú và sống động của Giáo Hội về mạc khải của Thiên Chúa hoàn tất trong Đức Kitô. Về mục vụ, Hiến Chế đă khẳng định chỉ có Lời đến từ Thiên Chúa, được thông truyền và diễn tả qua chính đời sống Giáo Hội cũng như qua chứng tá của mỗi Kitô hữu mới có thể đem lại ánh sáng và niềm vui cho một thế giới đang khắc khoải t́m kiếm con đường về với Sự Thật và Sự Sống” (Thư chung HĐGMVN 2005 số 1).
 

Như chúng ta đă biết, ngày 11/10/1962, sau gần 4 năm chuẩn bị xa gần, cùng với những nỗ lực và lời cầu nguyện của toàn thể Giáo hội, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đă khai mạc Công đồng Vatican II. Hiến chế MK là một trong 16 văn kiện của Công đồng. Hiến chế đă được bàn thảo kỹ lưỡng, trải qua chặng đường dài xuyên suốt thời gian của cả bốn Khóa họp Công đồng (1962, 1963, 1964, 1965). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI long trọng công bố Hiến chế ngày 18.11.1965, sau khi các Nghị phụ đă bỏ phiếu với kết quả thật lạ lùng: 2344 phiếu thuận và 6 phiếu chống, dù có nhiều quan niệm không phù hợp nhau trong quá tŕnh thảo luận.
 

Chúng ta cùng nh́n tổng quát về Hiến chế.
 

Nội dung Hiến chế gồm Lời mở đầu (số 1) và 6 chương (số 2-26).
 

LỜI MỞ ĐẦU
 

Lặp lại câu nói của thánh Gioan: “Chúng tôi loan truyền cho anh em sự sống đời đời đă có nơi Chúa Cha và đă hiện đến với chúng tôi” (1 Ga 1,2-3) và noi gương Công đồng Trentô và Vaticanô I, Công đồng Vaticanô II nhắm mục đích tŕnh bày giáo lư chân thật về mạc khải.
Mục đích thứ hai của văn kiện được diễn tả như sau: “Để khi nghe công bố ơn cứu độ, toàn thể nhân loại tin theo, để nhờ tin mà hy vọng và nhờ hy vọng mà yêu mến”.
Sáu chương chính được chia làm 2 phần lớn, do 2 tiểu ban soạn thảo:
 

Phần I: Nói về mạc khải tổng quát, gồm 2 chương I và II.
 

Phần II: Nói về Kinh Thánh, một h́nh thức đặc biệt của mạc khải, gồm các chương c̣n lại.
 

CHƯƠNG I: VỀ CHÍNH VIỆC MẠC KHẢI (số 2 – số 6)
 

Thiên Chúa yêu thương loài người, Ngài muốn đối thoại với họ, ngỏ lời với họ như bạn hữu để họ biết mầu nhiệm thánh ư Ngài. Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau, sẽ được sáng tỏ nơi Đức Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên măn của toàn thể mạc khải.
Từ tổ tông Adong Evà, Chúa đă tự tỏ Ḿnh ra cho ông bà, rồi lần lượt qua Abraham, Môisê, các ngôn sứ, và cuối cùng qua chính Con của Người. Và trước khi Đức Giêsu hiện đến trong vinh quang, chúng ta không phải chờ đợi một mạc khải công cộng nào khác nữa.
 

Dù lư trí tự nhiên có thể nhận biết có Chúa (Rm 1,20), nhưng người ta phải bày tỏ “sự vâng phục đức tin”, người ta phải có Chúa giúp đỡ trước, người ta mới không lầm lẫn khi t́m kiếm Người.
 

CHƯƠNG II: SỰ LƯU TRUYỀN MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA (số 7 – số 10)
 

Những ǵ Thiên Chúa đă mạc khải để cứu rỗi muôn dân, Ngài đă ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ. Bởi thế, Chúa Kitô, nơi Người Thiên Chúa tối cao hoàn tất trọn vẹn mạc khải, đă truyền dạy các tông đồ rao giảng cho mọi người Phúc Âm đă được hứa trước qua miệng các Ngôn sứ, được chính Người thực hiện và công bố.
Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi rao giảng cho mọi người “giữ hết mọi điều Ta đă truyền cho các con”. Rồi các Giám mục kế vị các Tông đồ tiếp tục.
Mạc Khải của Thiên Chúa gồm cả Kinh Thánh và Thánh Truyền.
 

Giáo hội qua giáo lư, đời sống và việc thờ phượng mà bảo tồn và lưu truyền mạc khải của Chúa.
 

CHƯƠNG III: SỰ LINH ỨNG CỦA THIÊN CHÚA VÀ VIỆC GIẢI THÍCH KINH THÁNH (số 11 – số 13)
 

Toàn bộ Cựu Ước và Tân Ước với tất cả các thành phần đều được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, nên tác giả là chính Thiên Chúa. Nhưng để viết ra, Chúa linh ứng những tác giả loài người dùng khả năng và phương tiện của họ viết ra điều Chúa muốn.
 

Những lời tác giả được linh ứng viết ra là những lời của Chúa Thánh Thần, không thể sai lầm.
 

Tuy nhiên, Chúa nhờ cách nói của loài người mà phán dạy, nên muốn biết rơ điều Chúa muốn dạy chúng ta, người giải thích Kinh Thánh phải chú ư đến nhiều phương pháp, trong đó cần xét đến văn loại, mới hiểu được cách thức cảm nghĩ, diễn tả của thời đại đó thường dùng khi giao tế với nhau.
 

Đă nói Kinh Thánh được viết bởi Chúa Thánh Thần linh ứng, th́ phải giải thích trong Chúa Thánh Thần, trong đức tin, và theo sự thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh.
 

CHƯƠNG IV: CỰU ƯỚC (số 14 – số 16)
 

Thiên Chúa chí ái, ân cần trù liệu và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại, Người tuyển chọn một dân và mạc khải Ḿnh cho họ, để ngày qua ngày họ hiểu thấu đường lối Chúa, mà muôn dân cũng được biết Chúa và đường lối của Người.
Công cuộc cứu rỗi được các thánh sử tiên báo, và biểu thị các biến cố ấy dưới nhiều h́nh bóng khác nhau trong các sách Cựu Ước. Như vậy Cựu Ước là để chuẩn bị và tiên báo sự xuất hiện của Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế.
 

CHƯƠNG V: TÂN ƯỚC (số 17 – 20)
 

Đến thời viên măn, Thiên Chúa cho Con của Ngài là Ngôi Lời xuống thế làm người, trực tiếp nói với chúng ta. Người mạc khải Cha Người và chính Ḿnh Người.
 

Trong Tân Ước, bốn sách Tin Mừng chiếm địa vị ưu đẳng, v́ là chứng tá chính yếu về đời sống và giáo lư của Ngôi Lời nhập thể.
 

CHƯƠNG VI: KINH THÁNH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI (số 21 – số 26)
 

- Phải được ban phát như Ḿnh Thánh Chúa.
- Mở rộng lối vào Kinh Thánh (và Thánh Truyền) cho các tín hữu.
- Mọi thành phần dân Chúa: linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo lư viên và mọi Kitô hữu phải chăm đọc, ân cần học hỏi và lắng nghe Lời Chúa. Tiếp xúc với chính bản văn.
- Lời giảng, người giảng, phải được Kinh Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn.
- Cầu nguyện đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, v́ “cầu nguyện, chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh” (Th.Ambrôsiô).
- Các Giám mục có phận sự:
 

+ Dạy các tín hữu biết sử dụng đúng đắn Kinh Thánh, nhất là Tân Ước, để thấm nhuần Kinh Thánh.
+ Thực hiện những ấn bản Kinh Thánh với lời chú thích hợp với giáo dân và dân ngoại.
 

Chương VI được kết thúc bằng một nguyện vọng của các Nghị phụ (số 26): Nhờ đọc, nhờ học, kho tàng mạc khải tràn ngập tâm hồn con người. Giáo Hội càng tăng triển nhờ bí tích Thánh Thể, đời sống thiêng liêng càng được đổi mới nhờ thêm ḷng sùng kính Lời Chúa, là Lời “hằng tồn tại muôn đời” (Is 40,8; 1P 1,23).
 

Như HĐGM Việt Nam đă nhận định ở trên, Hiến chế MK là một văn kiện quan trọng của Công đồng. Hiến chế có bước tiến tích cực trong công cuộc t́m hiểu Mạc khải, và có tầm ảnh hưởng lớn lao cho nền thần học Công giáo cùng cuộc đối thoại hiệp nhất.
 

Bản văn sau cùng được hầu hết các Nghị phụ chấp thuận đă nói lên đức tin của Giáo hội về vấn đề này. Đây là một văn kiện có những cuộc bàn thảo sôi nổi, có những lúc thật căng thẳng. Dầu không đồng tâm về ít chi tiết, nhưng phần giáo thuyết căn bản th́ không ai có thể bàn căi được nữa. Sự h́nh thành của Hiến chế đă nói lên một yếu tố của Công đồng Vatican II: Công đồng của tự do và đối thoại.
 

Hiến chế thúc đẩy các nhà thông thái nghiên cứu Kinh Thánh và tha thiết khích lệ mọi tín hữu say mê học hỏi Lời Chúa, v́ “không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” (thánh Giêrônimô). Đây là một hướng mới đặc biệt cho người tín hữu giáo dân vốn “họ đă có sự tôn kính Kinh Thánh cho đến độ họ sống xa cách Lời Chúa” (Paul Claudel), mà không có cơ hội t́m hiểu hay học hỏi Kinh Thánh. Hiến chế cũng nhấn mạnh kinh nguyện phải có kèm theo việc đọc Kinh Thánh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, v́ “chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh (thánh Ambrôsiô)”.
 

Ngoài ra, Hiến chế c̣n đặt để Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô trong ḍng lịch sử cứu độ. Đây là nét mới của Công đồng Vatican II trong việc t́m hiểu và học hỏi Thánh Kinh. Nói cho đúng hơn, Công đồng nhấn mạnh đến lịch sử cứu độ, v́ Công đồng muốn trở về nguồn. Do đó việc xác định chân lư Kinh Thánh của Hiến chế là điều rất quan trọng. Người ta không t́m trong Kinh Thánh bất kỳ chân lư nào (khoa học, lịch sử, địa lư, dân chủng học...), nhưng chỉ có chân lư cứu thoát chúng ta, chân lư ấy đồng thời cũng là sự sống, là đường dẫn đến sự cứu độ: “Phải tuyên xưng rằng Kinh Thánh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, chân lư mà Thiên Chúa đă muốn Kinh Thánh ghi lại nhằm cứu độ chúng ta” (số 11). Điều đó muốn nói rằng chân lư của chúng ta không phải chỉ là lư thuyết suông, nhưng là một bổn phận phải thực hành: “thực hành chân lư” (Eph 4,15), và phải tiến tới trong chân lư: “đi trong chân lư”. Công đồng muốn đưa nền thần học khỏi quan niệm Hy Lạp về chân lư quá tĩnh, để trở về với ư niệm Do Thái linh động hơn, hiện sinh hơn, cởi mở hơn đối với mầu nhiệm Thiên Chúa.
 

ù nh́n rất sơ lược, chúng ta thấy Hiến chế MK đă mở đầu một giai đoạn mới cho vai tṛ của Kinh Thánh trong đời sống Hội Thánh, và ước nguyện của Hiến chế là “kho tàng mạc khải, đă được ủy thác cho Giáo Hội, ngày càng lấp đầy tâm hồn con người” (số 26) đang dần dần trở nên hiện thực.
 

Trong bài diễn văn đọc trong dịp tiếp kiến các tham dự viên Hội Nghị Quốc Tế về Kinh Thánh sáng thứ Sáu 16.9.2005 tại Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI dâng lời cảm tạ Thiên Chúa, bởi v́ nhờ ảnh hưởng của Hiến chế về Mạc Khải, mà tầm quan trọng căn bản của Lời Chúa được đánh giá ngày càng sâu xa hơn. Điều này dẫn đến việc canh tân đời sống của Giáo Hội, nhất là trong lănh vực rao giảng, dạy giáo lư, thần học, tu đức, và cả trong tiến tŕnh đại kết. Giáo Hội cần phải canh tân luôn măi, cần trẻ trung hóa chính ḿnh. Và Lời Chúa là phương tiện ưu tiên cho công cuộc canh tân Giáo Hội, v́ Lời Chúa không bao giờ lỗi thời hay bị hết hạn.
 

 

Tài liệu tham khảo: Thánh Công Đồng chung Vaticanô II- Hiến chế MK; tài liệu thường huấn linh mục các địa phận Đà Lạt.