HIẾN CHẾ TÍN LÝ VỀ MẠC KHẢI DEI VERBUM
 

 

 

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1)
 

Nếu ai đã đọc qua Phúc Âm của thánh Gioan chắc hẳn phải công nhận rằng sách này khác hẳn bộ Phúc Âm Nhất Lãm của Lu ca, Mác-cô và Mát-thêu. Trong Phúc Âm của thánh Gioan không hề đề cập đến việc chúa Giêsu giáng sinh, việc Ngài chịu phép rửa, chịu cám dỗ, cũng không nói đến bữa tiệc ly, biến cố ở vườn Giết-sê-ma-nê, Chúa Giêsu thằng thiên,… Trong sách Phúc Âm của Thánh Gioan cũng không chép về những việc Chúa Giêsu chữa lành cho bất kỳ ai, cũng không ghi lại những ẩn dụ mà Chúa Giêsu đã kể như trong ba quyển Phúc Âm kia, mà đã đuợc lập đi lập lại nhiều lần như những điều vô gía. Nhưng hình như trong Phúc âm thánh Gioan chỉ muốn ghi lại bản chất thực sự của “con người” Chúa Giêsu, là Ngôi Lời, là Thiên Chúa… Vì vậy những câu chuyện chép lại về “con người” Giêsu đều nhằm một mục đích chính, là minh xác Chúa Giêsu thực sự đến thế gian, Ngài là sự thật, là chân lý, Ngài là ánh sáng thật (1:9); Ngài là bánh thật (6:32); Ngài là gốc nho thật (15:1)…

Để hiểu rõ thêm tại sao thánh Gioan lại qúa quan tâm đến việc minh xác con người của chúa Giêsu với đọc giả của mình như vậy, ta cần đi ngược lại giòng thời gian để tìm hiểu lịch sử thời đại lúc đó. Nhưng nếu khai triển vấn đề này rộng ra thì có lẽ bài viết này sẽ trở thành một bài nghiên cứu về Kinh Thánh mất. Đại khái vắn tắc rằng, thời đại đó (100 AC) có rất nhiều người Hy lạp theo đạo công giáo. Thánh Gioan viết Phúc Âm nhằm để thuyết phục những người Hy Lạp theo đạo (*), tin vào chúa Giêsu chính là Thiên Chúa đã xuống thế gian, sống và chết cho nhân loại. Phải biết rằng, người Hy lạp là một trong số những đại tư tưởng gia trên thế giới, muốn thuyết phục họ tin vào Chúa Giêsu không phải là một chuyện dễ…. Đối với người Hy lạp, gia phả của Chúa Giêsu không có ý nghĩa gì cả, họ cũng không hiểu được chữ đấng Mê-si-a là gì, chúa Giêsu là ai. Chính vì vậy, thánh Gioan đã khôn khéo không nhắc đến những sự việc này như những Phúc âm của Mác-cô, Lu-ca, hay Mát-thêu đã viết, mà thường những Phúc Âm này khi nhập đề đã nói ngay về gia phả của Chúa Giêsu, là một trong những điều mà người Do Thái rất quan tâm đến. Phúc âm của thánh Gioan ngược lại viết bằng tiếng Hy Lạp, phong phú hơn tiếng Do Thái tới hơn 20 lần, ngài đã nhập đề bằng chữ “Logos” bao gồm hai ý nghĩa: một là lời nói; hai là lý trí. Đối với người Do Thái Lời nói hay Ngôi lời là những điều rất quen thuộc ám chỉ về Thiên Chúa. “Thiên Chúa phán: Phải có ánh sáng, liền có ánh sáng” Sách Sáng Thế (1:3). Trong khi đó người Hy lạp chỉ quen thuộc với tư tưởng của lý trí. Họ nhìn vào thế giới này thấy một trật tự tuyệt vời và bền vững và cho rằng đó là sáng tạo bởi thần trí của Thượng Đế. Nhưng làm sao có thể một sớm một chiều họ chấp nhận và tin Chúa Giêsu là Thiên Chúa được…

Với 66 quyển sách Cựu Ước và Tân Ước gom lại thành bộ Kinh Thánh in lần đầu tiên vào năm 1454, Kinh Thánh ngày nay được dịch ra hơn 2,000 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới với cả tỉ ấn bản, song song với vô số các sách khác nhau được xuất bản dưới nhiều hình thức trình bày về Chúa Giêsu, cho các lứa tuổi, tầng lớp khác nhau trong xã hội. Tuy nhiên số người tin vào Chúa Giêsu mỗi ngày một ít đi. Hiện tượng trên làm quan tâm đến những nhà lãnh đạo tinh thần trong cộng đồng Ki Tô hữu nói chung, và của Giáo Hội Công Giáo nói riêng. Là những chiến sĩ tiên phong của Chúa Kitô, các cursillistas trong đó có tôi, phải tự đặt lại cho mình mỗi người một câu hỏi với nhiều câu trả lời riêng mà chỉ có chính chúng ta và Thầy Chí Thánh biết được.

Trong quyển cẩm nang “Làm Sao Biết Bạn Là Người Ki Tô Hữu” (How You Can Be Sure You Are a Chirstian) do Dr. Bill Bright viết lần đầu tiên vào năm 1971, trong phần nói về thiện chí của người Ki-tô hữu, Dr Bright nhìn nhận rằng có một số người đã ngần ngại không muốn chấp nhận Chúa Giêsu vào trong cuộc đời của mình, hay không muốn tin rằng những gì của Chúa Giêsu nói là đúng vì sợ rằng, những “lề luật” của Ngài sẽ làm mất đi những thú vui đang có trong cuộc sống. Mặc khác nhiều thành viên đang đóng góp tích cực trong cộng đồng, ngay từ những vị lãnh đạo cộng đồng cho tới những giảng viên giáo lý cũng không nắm chắc và hiểu rõ thế nào về ơn cứu độ mà chúng ta đang nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Chúa Giêsu. Dr Bright đã đưa ra ba điểm người Kitô hữu cần phải có đó là: sự hiểu biết về Chúa Giêsu, sự cảm nghiệm được về Chúa Giêsu, và phải dám có sự dấn thân vì Chúa Giêsu.

Ki Tô Giáo khác hẳn với các tôn giáo khác, vì trong Kitô Giáo Chúa Giêsu là trung tâm điểm của Giáo Hội. Đạo Phật có thể tồn tại không cần có Đức Phật, Hồi Giáo có thể tồn tại không cần có vị Mo-ham-met. Nhưng Kitô giáo không thể tồn tại nếu không có Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu là con một Thiên Chúa, là một trong những nền tảng đức tin chính của người Kitô Hữu, chỉ qua Chúa Giêsu chúng ta mới thiết lập được quan hệ mật thiết với Thiên Chúa và được ơn cứu rỗi. Khi đã ý thức được chân lý tối hậu đó và hơn nữa, còn nhận biết rằng chính Chúa Giêsu là Đấng tặng ban sự sống, chúng ta có thể cùng thánh Phêrô tuyên xưng rằng: “Bỏ Thầy con biết theo ai, vì chỉ Thầy mới có lời ban sự sống đời đời” (Ga.6,68). Đến nỗi có thể nói rằng, chỉ khi chúng ta thốt lên đuợc lời tuyên xưng ấy một cách sâu sắc và sống theo những gì Thầy đã dạy, chúng ta mới có thể trở nên một người Kitô hữu đích thực.

Không biết qúy anh chị đã cảm nhận lời Chúa Kitô vào trong cuộc đời mình như thế nào, riêng tôi trong thực tế vẫn chưa cảm nhận được lời Chúa đến với mình nhiều cho lắm, có lẽ vì khi đọc Thánh Kinh tôi không nghĩ rằng những Lời nói của Chúa đó chính là cho tôi, tôi không thấy được mình chính là một Pharisiêu giả hình, một Giuđa phản bội…Tôi chưa đủ khả năng biến những câu chuyện Thánh kinh thành câu chuyện riêng của lòng mình. Chuyện về vua Đavit tội lỗi, về Chúa Giêsu chữa bệnh phong cùi, về Đức Giêsu trên Thập giá… nhưng hy vọng vào một ngày nào đó khi tôi có thể cá nhân hóa đời mình và nội tâm hoá bản thân mỗi khi đọc Kinh Thánh, lúc đó Thầy Chí Thánh sẽ trở nên sống động hơn trong tôi, và chỉ có lúc đó tôi sẽ nhận được Lời Ban Tặng Sự Sống đời đời.

Mùa Chay năm nay bắt đầu vào thứ Tư lễ Tro cũng là ngày đầu tiên của mùa Thu. Người ngoại quốc gọi mùa chay là “Lent” có nghĩa là Mùa Xuân (Springtime), vì đa số họ sống ở Bắc bán cầu khi thời điểm này cũng vừa chấm dứt mùa Đông tại đó. Sống ở Úc nhất là tại Canberra, ta có thể nhận diện các mùa rõ rệt qua màu sắc của lá cây. Mùa Chay ở Úc rơi vào mùa Thu, khi các lá cây bắt đầu trở nên vàng úa và rơi rụng thay vì bắt đầu đâm chồi, nẩy mọc như ở bên Âu Châu. Ở đây chúng ta chấm dứt mùa Hè nóng bức và thời tiết trở nên dịu dàng hơn. Đây cũng là thời gian mà tôi thường quay về để nhìn lại chính mình, đặt lại những ưu tiên trong cuộc đời và tìm lại chân giá trị trong cuộc sống. Đây là thời gian để cầu nguyện và lắng động tâm hồn, như những chiếc lá đang từ từ chết và rơi xuống đất không phải vì thất vọng, nhưng để chuẩn bị trong hy vọng Phục Sinh cùng Thầy.

Canberra 5/3/2006

 

Thiển Ý

(*) tạm cho là những người ngoại đạo thời bấy giờ