|
|
Nữ tu Therese Miriam Vũ Lành Hải, CMR
Anh
Chị Em Cursillistas thân mến,
Ngày 1/11/2005 Con ngựa mang tên Makybe Diva đã chiếm được lòng yêu
quý của toàn dân Úc. Suốt con đường chạy đua không thấy Makybe Diva
xuất hiện ở hạng thứ nào cả, nhưng đến lúc gần tới đích, Makybe đã
xuất hiện bất ngờ vượt lên trước tất cả để chiếm giải nhất. Đây là
lần thắng thứ ba trong cuộc đua Melbourne Cup. Người người lên
tiếng: “Đó là hình bóng của thần mã Phar Lap”.
Thần mã Phar Lap xuất hiện từ thuở nào và có gì nổi bật, mà Makybe
Diva được trở thành là hình bóng của Phar Lap. Thần mã Phar Lap là
chú ngựa đã xuất hiện trên đường đua năm 1930, cách đây 75 năm.
Chính cái chết bí ẩn của chú đã đưa chú vào huyền thoại. Tên Phar
Lap, có nghĩa là "Chùm Sao Lấp Lánh”, và cuộc đời của chú ngựa này
đã y hệt như cái tên do người huấn luyện đặt cho, đến chết vẫn còn
huy hoàng rực sáng bất diệt trong lịch sử Nước Úc. Vì ngựa Phar Lap
là Nhà Vô Địch của nước Úc. Chỉ trong vòng 4 năm chú đã giành được
37 giải nhất trong 51 cuộc đua mà chú tham dự tại Úc và Thế giới.
Chú cũng là con ngựa duy nhất được mến mộ và đạt được bất khả chiến
bại trong 3 năm liên tiếp tại Melbourn Cup.
Makybe giống Phar Lap ở điểm bất khả chiến bại trong 3 năm liên tiếp
trên đường đua Melbourne Cup 2003, 04 và 05. Vì thế Makybe Diva được
mệnh danh là hình bóng của thần mã Phar Lap. Mặc dù Phar Lap còn có
nhiều điểm mà Makybe không có.
Phar Lap sinh năm 1926 ở Timaru New Zealand, xứ sở của ngựa đua nổi
tiếng nhất thế giới. Thoạt nhìn, chú không có dáng vẻ của một con
ngựa đua cừ khôi. Sau khi dứt sữa mẹ, Phar Lap được đem bán sang Úc
với giá rẻ vào khoảng 336 dollar Úc bấy giờ. Phar Lap chẳng tạo được
một ấn tượng sâu đậm nào cho người chủ mới của mình, bởi vì dáng dấp
của chú thật là tầm thường, trông rất ốm yếu và tính tình hay càu
nhàu, luôn luôn nguẩy đầu từ chối người cười ngựa.
Sau
khi được nuôi dưỡng theo chế độ đặc biệt dành cho ngựa ra đường đua,
Phar Lap đã lớn nhanh thành một chú ngựa cường tráng, bốn chân bắp
thịt rắn chắc và một quả tim mạnh mẽ có thể chịu đựng áp lực những
cuộc đua đường dài, cần sức dẻo dai. Đây là điều hiếm thấy ở ngựa
đua. Nhưng Phar Lap đã hơn cả loài người, hội đủ hai yếu tố trên,
nhanh nhất và bền bỉ nhất. Phar Lap đã thắng giải liên tiếp.
Có
một điều lạ hơn nữa, là trên đường đua Phar Lap không chịu cho một
ai ngồi trên lưng mình ngoại trừ một mình Tommy Woodcock, dù trọng
lượng của Tommy nặng nhẹ thế nào, Phar Lap chịu đựng và vẫn chiến
thắng, như kỳ đua Melboune Cup vào tháng 11/1930 trọng lượng của Tom
nặng đến 62,5 kg, tức là Phar Lap phải chở thêm 4kg trên mình chú,
nhưng Phar Lap đã giành được 3 giải một cách dễ dàng. Hoặc một lần
khác, trọng lượng của Tommy đã lên tới 68kg, Phar Lap cũng đã chiến
thắng 8 lần liên tiếp ở giải Australian. Phar Lap chấp nhận chịu sức
nặng của người bạn tri kỷ mặc dù sau đó Phar Lap phải nằm bệnh viện.
Tom và Phar Lap đã có một tình bạn thật nhanh chóng, thật sâu đậm và
khăng khít đến nỗi Phar Lap bỏ ăn nếu không thấy mặt của Tommy mỗi
ngày trong chuồng ngựa của chú.
Tại
sao Phar Lap không chịu thay đổi một người cưỡi ngựa nào khác ngoài
Tommy. Có lẽ Tommy đã cảm nhận được mối tình thân thiện bằng sự sự
tin tưởng của ngựa Phar Lap, và ngựa Phar Lap đã cảm được mối tình
chân thành hy sinh của Tommy. Một bằng chứng cụ thể đã xẩy ra sau
cuộc đua tại Caufield Racecource, Tommy đưa Phar Lap về nghỉ ngơi
trong chuồng ngựa. Thình lình có một chiếc xe lạ chạy ngang chĩa
súng vào Pharlap, nhanh như chớp Tommy đẩy Phar Lap vào chuồng và
dùng bản thân mình để chắn đạn bắn ra từ chiếc xe đó. Nhờ sự bảo vệ
và tình bạn thân thiết của Tommy mà Phar Lap đã không bị thiệt hại
gì.
Với
chú ngựa có tính bướng bỉnh, hay càu nhàu, không khuất phục một
người nài ngựa nào khác, thế mà đã thuần thục với Tommy Woodcock, đó
là nhờ mối tương giao giữa trái tim với trái tim. Ngựa Phar Lap đã
cảm nhận được tình yêu thương của Tommy qua những giây phút tập
luyện, đua tài, những giờ phút nghỉ ngơi cũng như những lúc hoảng
sợ. Càng sinh hoạt gần gũi với nhau, người và vật, tuy khác loài
nhưng cùng có một mối tình yêu thương, tôn trọng và tin tưởng nhau.
Tommy và Phar Lap đã nói với nhau bằng ngôn ngữ yêu thương của trái
tim. Khi còn sống, Phar Lap chỉ tin tưởng và cho một mình Tommy ngồi
trên lưng mình. Và Tommy cũng không ngồi trên lưng một con ngựa nào
khác ngoại trừ Phar Lap. Khi Phar Lap chết, Tommy đã vật vã khóc bên
cạnh xác Phar Lap và từ đó không bao giờ thấy Tommy xuất hiện trên
các trường đua nữa.
Thật là một mối tình gắn bó lạ lùng, một tình bạn thủy chung hiếm
có. Nhưng còn có một mối lạ lùng kỳ diệu hơn thế nữa trong lịch sử
nhân loại. Mối tình của một Thiên Chúa, Ngài đến với loài người dưới
hình dạng là con người. Sinh ra là một đứa trẻ bé nhỏ yếu đuối,
không tỏ lộ một sự gì vĩ đại. Người đó lớn lên như mọi người bình
thường, Người đó đã lăn lộn cùng với cuộc sống loài người, chịu đói,
chịu khát, sống nghèo nàn, không nhà không cửa, bị khổ cực đủ điều.
Người đó mang danh Giêsu. Giêsu đã sống với hết tình yêu của mình và
cuối cùng đã dâng hiến cả thân xác cũng như cuộc sống cho mối tình
yêu cao cả ấy.
Sau
khi chết, Giêsu đã không còn xuất hiện công khai như trước nữa,
nhưng lại thấy xuất hiện nhiều hình bóng của Giêsu hơn. Khi chết đi,
nhiều người đã đi vào con đường Tình Yêu mà Giêsu đã đi trước, nhiều
người đã bắt chước tấm lòng tốt lành, những hành động nhân đạo của
Giêsu. Như Thánh Phêrô và các Thánh tông đồ thời sơ khai. Tiếp theo
là Thánh Phaolô, một người khát máu tìm bắt những người theo Giêsu,
nhưng cuối cùng đã trở thành hình bóng của Giêsu cho dân ngoại. Rồi
đến các Vị Thánh, mỗi vị đều là hình bóng của Giêsu, phản ảnh một
nét đặc thù của Người như đức hiền lành, lòng khiêm tốn, đức nhẫn
nhục, lòng vị tha v.v.v. Và hiện nay vẫn còn biết bao nhiêu người
cũng đang cố gắng sống cuộc sống của Chúa Giêsu, cố gắng phản ảnh
một Chúa Giêsu mà suốt cuộc đời chỉ biết “yêu thương, khoan dung,
nhân hậu, luôn tỏ lòng kính trọng, biết tin tưởng và kiên nhẫn,
không ghen tương, không tự kiêu, tự mãn, không khiếm nhã, không
khinh thường ai, không ích kỷ, không cáu giận, không chấp nhất sự
dữ, không mừng trước sự bất công, nhưng luôn biết chia vui xẻ buồn
với lòng chân thật”. Chúa Giêsu đã dùng Tình Yêu để đối xử tốt với
mọi người. Là những người theo Chúa Giêsu, Tình Yêu cũng phải là
động lực trong tất cả mọi liên hệ của chúng ta, trong mọi lúc, ở mọi
nơi và với mọi người.
Ngày 25/1/2006 Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI mới công bố thông điệp
đầu tiên trong triều đại Ngài: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Đức Thánh
Cha đã muốn trao cho Giáo Hội một văn kiện rất mạnh nói về “tâm điểm
đức tin Kitô”, đồng thời nói đến hình ảnh Kitô về Thiên Chúa và hình
ảnh Kitô về con người phát sinh từ đó. Nói là “Văn kiện mạnh mẽ”, vì
Thông Điệp nhắm chống lại việc sử dụng danh thánh Thiên Chúa cách
sai lầm và chống lại tính cách mơ hồ của quan niệm về “tình yêu”,
được thấy rõ trong thế giới ngày này.
Thông điệp gồm 41 số, đặc biệt số 39 của Thông điệp, Đức Thánh Cha
nói rằng: “Đức tin, đức cậy và đức ái đi đôi với nhau. Đức cậy được
thực hành qua đức kiên nhẫn, nghĩa là vẫn tiếp tục làm việc lành dù
khi đối diện với những thất bại bên ngoài, và qua đức khiêm hạ,
nghĩa là chấp nhận mầu nhiệm của Thiên Chúa và tín thác vào Người dù
trong tăm tối. Đức tin kể cho chúng ta rằng Thiên Chúa đã ban Chúa
Con để cứu độ chúng ta và gợi lên trong chúng ta niềm xác tín vinh
thắng rằng đó là sự thật: Thiên Chúa là tình yêu! Vì thế nó biến đổi
sự mất kiên nhẫn và nghi ngờ của chúng ta thành niềm hi vọng vững
chắc: Thiên Chúa nắm giữ thế giới trong bàn tay của Người và như
hình ảnh cảm động của phần cuối Sách Khải huyền nêu lên, dù trong
đêm tối, cuối cùng Người chiến thắng trong vinh quang. Vì thấy tình
yêu của Thiên Chúa được mặc khải trong trái tim bị đâm thâu của Đức
Giêsu trên Thánh giá, đức tin làm nảy sinh tình yêu. Tình yêu là ánh
sáng—và cuối cùng, chỉ mình ánh sáng—mới có thể chiếu sáng luôn mãi
một thế giới đang mờ tối và ban lại cho chúng ta lòng can đảm cần
thiết để sống và hành động. Tình yêu thì có thể thực hiện được, và
chúng ta có khả năng thực hành bởi vì chúng ta đã được dựng nên theo
hình ảnh của Thiên Chúa. Kinh nghiệm tình yêu và theo cách ấy làm
cho ánh sáng của Thiên Chúa đi vào trong thế giới—đó là lời mời gọi
tôi muốn nêu lên với Thông điệp này”
Đọc
những lời viết ra từ trái tim của Đức Thánh Cha trong thông điệp
“Thiên Chúa là Tình Yêu”, ước mong mỗi người chúng ta hãy là hình
bóng của Chúa Giêsu, nổi bật về một nét riêng nào đó của Người, để
khi bất cứ ai tiếp gặp chúng ta, họ phải thốt lên: “Đó chính là hình
bóng Chúa Giêsu ngày xưa.” Nếu “hình bóng của Chúa Giêsu” xuất hiện
nhiều hơn nữa, thì thế giới sẽ bớt đi những chiến tranh khủng bố,
cộng đoàn sẽ giảm đi những tranh chấp đôi co, gia đình sẽ không còn
chịu cảnh phân tán chia ly, và con người sẽ không còn mang tâm trạng
cô đơn để đi tìm những sự thoả mãn bất chính...
Xin
cho lời tâm huyết của Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là
tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” cũng là lời phát ra tự đáy
lòng chúng ta. Khi có Chúa Giêsu sống trong chúng ta, thì chúng ta
dễ phản chiếu ánh sáng Chúa Giêsu ra trong cuộc sống hàng ngày, trao
ban bình an của Thiên Chúa đến cho mọi người.
Decolores
|
|