|
“Về bản chất, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội truyền giáo, công việc
chính của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng”. Đó là điều Đức Giáo Hoàng
Bênêđictô XVI nhắc đi nhắc lại trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi nhưng
đầy ư nghĩa tại đền thánh Phaolô ngoại thành ở Rôma ngày 25 tháng 4 năm
ngoái, khi ngài vừa nhận lănh sứ vụ thánh Phêrô. Thật vậy, trước mộ
thánh Tông Đồ dân ngoại, ngài đă cầu xin cho: “Toàn thể Giáo Hội, các
giám mục, và cộng đồng dân Chúa được vui mừng rao giảng và làm chứng Tin
Mừng cho mọi người”.
Lời cầu xin thiết tha này được phát sinh là để đáp ứng lại lệnh truyền
của Chúa Giêsu khi xưa: “Hăy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”
(Mc 16,15).
Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội đă không ngừng rao giảng Tin
Mừng “lúc thuận tiện cũng như lúc khó khăn” (2Tm 4,1). Công Đồng
Vaticanô II đă khẳng định Giáo hội mang bản chất truyền giáo và vạch ra
một hướng mới trong việc Phúc Âm hóa qua ba văn kiện căn bản: Hiến chế
Tín Lư về Giáo hội, Sắc lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội và
Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân. Khóa họp Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1974
đă chọn việc rao giảng Tin Mừng làm chủ đề và Tông huấn Phúc Âm hóa thế
giới ngày nay là kết quả của kỳ họp đó.
Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng rất tích cực trong việc rao giảng
Tin Mừng. Ngài đă công bố nhiều thông điệp, tông thư về truyền giáo. Đặc
biệt trong tông thư Bước Vào Thiên Niên Kỷ Mới, ngài luôn luôn nhắc đến
công tác Phúc Âm hóa như là sứ mệnh quan trong nhất trong thế kỷ 21.
Ngài mời gọi mọi người “Hăy ra khơi”.
“Ra khơi” không phải là công việc của riêng ai, mà là của tất cả mọi tín
hữu. Thực vậy, bằng đức tin và phép rửa, “Dân thánh của Thiên Chúa được
tham dự chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô” (Glư HTCG 785), và “Tất cả các
phần tử của Hội Thánh, mỗi người một cách đều được sai đi” (Glư HTCG
863), mà “Mỗi người được gọi riêng và không ai được quyền từ chối trả
lời, v́: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1 Cor 9,16)
(NTHGD 33).
Trước khi ban lệnh truyền các tông đồ đi rao giảng, chính Chúa Giêsu đă
thực hiện và làm gương cho chúng ta noi theo. “Chính Chúa Giêsu, Tin
Mừng của Thiên Chúa, là người rao giảng đầu tiên và quan trọng nhất”
(PAH 7).
Phúc Âm thánh Luca (4,17-21) cho thấy Chúa Giêsu đă được Thánh Thần xức
dầu, tấn phong, được Chúa Cha xác nhận là người Con chí ái và được Chúa
Cha sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài được xức dầu, nghĩa là được phong
vương, lại được sai đi rao giảng cho những người nghèo khó, đui mù, tù
đầy, bị áp bức đúng như lời ngôn sứ Isaia đă loan báo: “Thần khí Chúa
ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho
kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm ḷng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho
kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được sáng mắt, trả lại tự
do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”.
Tin Mừng Chúa Giêsu đem đến là sự sống đích thực cho con người: b́nh an,
hạnh phúc trong t́nh yêu thương và ơn cứu độ giải phóng con người khỏi
sự chết. Chúa Giêsu chẳng bao giờ nói những lời hư từ. Những Lời Ngài
nói đều là “những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68) kèm theo những
việc làm cụ thể. Trước nhiệt t́nh dân chúng chăm nghe Lời Chúa đến quên
mệt quên ăn, Ngài “chạnh ḷng thương” và nuôi họ ăn no...
Sau khi Chúa Giêsu về trời, là lúc Chúa Thánh Thần hoạt động cách đặc
biệt trong Giáo Hội, cách riêng trong lănh vực truyền giáo, Chúa Thánh
Thần là tác nhân chính. Công cuộc truyền giáo được thực hiện nhờ sức
mạnh, nhờ lửa và ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.
Trước ngày lễ Ngũ Tuần, các tông đồ vẫn c̣n sống trong ṿng u tối, dù
rằng các ngài đă đi theo Thầy Chí Thánh, đă được Thầy hướng dẫn, chỉ
dậy, vén mở chân lư, nhưng trí các ngài vẫn bị che mờ v́ Chúa Thánh Thần
chưa tới. Nhưng, trong ngày lễ Ngũ Tuần, khi Chúa Thánh Thần lấy h́nh
lưỡi lửa đổ xuống trên đầu các ngài, biến đổi tâm trí của các ngài,
khiến các ngài mạnh dạn, kiên cường, mở tung cánh cửa đang khép kín v́
sợ người Do Thái, rảo bước khắp nơi để rao giảng và làm chứng cho Chúa
Giêsu phục sinh. Chúa Thánh Thần đă biến đổi các ngài trở nên những
người hoàn toàn mới với tinh thần mới, cung cách sống mới, suy nghĩ và
hành động mới.
Như vậy, để công cuộc truyền giáo có kết quả, những sứ giả Tin Mừng cần
ra đi với một nhiệt t́nh tông đồ mới do Chúa Thánh Thần soi dẫn. Bởi v́
mỗi nơi, mỗi thời đại có nền văn hóa khác nhau, năo trạng khác nhau,
cách hiểu khác nhau... nên người rao giảng Tin Mừng phải t́m kiếm những
h́nh thức thích ứng để làm cho Tin Mừng được người ở vùng đất đó, thời
đại đó hiểu và đón nhận. Đức GH Phaolô VI, trong Tông huấn Phúc Âm hóa
thế giới ngày nay đă viết: “... Các h́nh thức Phúc Âm hóa thay đổi tùy
theo những hoàn cảnh khác nhau về thời gian, không gian, văn hóa, do đó
chúng như thách thức khả năng khám phá và thích ứng của chúng ta”.
Ngày xưa, công việc truyền giáo chủ yếu là trực tiếp rao giảng Tin Mừng,
nay lại thiên về các hoạt động từ thiện, bác ái xă hội, kết hợp giữa lời
nói và việc làm. Trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc, Đức GH Gioan
Phaolô II nói: “Tôi cám ơn các nhà truyền giáo, nhờ sự hiện diện đầy
t́nh mến và sự phục vụ khiêm tốn đă hoạt động cho việc phát triển toàn
diện con người cũng như xă hội; nhờ các cơ sở giáo dục, các trung tâm
sức khỏe, các trại phong, các nơi chăm sóc những người già cả và tàn
tật, những sáng kiến thăng tiến phụ nữ và nhiều điều khác nữa... Quả
thực, chính những công việc ấy đă làm chứng cho tinh thần của mọi hoạt
động truyền giáo. Đó là t́nh yêu thương, vẫn măi măi là động cơ thúc đẩy
việc truyền giáo”.
Ngoài ra, “thế giới nào con người ấy”. Thế giới hôm nay là thế giới của
khoa học kỹ thuật, ngành truyền thông có sức ảnh hưởng sâu rộng trên tất
cả mọi con người. Và v́ thế, chúng ta cũng phải sử dụng những phương
tiện truyền thông để Phúc Âm hóa chính môi trường này và có thể giao
tiếp rộng răi với con người hôm nay. Nhờ phương tiện này “việc rao giảng
về Chúa được thực hiện như thể trên mái nhà” (PAH 45). Huấn thị của hội
đồng Giáo Hoàng về truyền thông xă hội ngày 23/5/99 đă viết: “Chúng ta
cần phải đưa sứ điệp Tin Mừng vào trong nền văn hóa mới do các phương
tiện thông tin hiện đại tạo ra. Đây là một vấn đề khá phức tạp v́ nền
văn hóa mới này không chỉ khai sinh từ bất kỳ nội dung thông tin nào, mà
c̣n từ sự kiện. Hiện nay đang có những cách truyền thông mới, với những
ngôn ngữ mới, với những kỹ thuật mới và một tâm lư mới”.
Một trong những cái “mới” rộng lớn và hữu hiệu ngày nay chính là
Internet mà chúng ta cần quan tâm. Đây là con dao hai lưỡi vừa có thể
hủy hoại tinh thần con người, mà vừa là phương tiện tốt cho việc rao
giảng Tin Mừng. Trong Bản Tin tháng trước nơi trang 48 có nói qua về vấn
đề này. Đức TGM John Foley, Chủ tịch Hội đồng GH về truyền thông xă hội
nhắc đến Internet đă là chủ đề được đề cập đến trong Thông điệp của ĐGH
Gioan Phaolô II nhân ngày ruyền thông thế giới năm 2002 và trong hai tài
liệu của Hội đồng: “Giáo Hội và Internet” và “Đạo đức học trong
Internet”. Ngài xác định Internet là một phương thế để rao giảng trong
thời đại hôm nay. Ngài nói thêm: “Trong số hàng triệu người dùng
Internet hằng ngày, có nhiều người có thể t́m thấy được một lời của hy
vọng. V́ vậy Internet có thể là đường lối mới Chúa dùng để mang Tin Mừng
đến mọi nơi, để đến với những người sống trong cô đơn, không bao giờ mở
cửa nhà ḿnh”.
Phong trào Cursillo, một phong trào của Giáo Hội, luôn dấn thân trong
công cuộc rao giảng Tin Mừng. Phong trào thực hiện việc rao giảng bằng
phương thế “Phúc Âm hóa môi trường”. Đây là một lựa chọn căn bản của
phong trào theo đúng với tinh thần của Giáo Hội như Đức GH Phaolô VI đă
định nghĩa: “Đối với Giáo hội, Phúc Âm hóa là đem Tin Mừng đến mọi giai
tầng trong nhân loại, và qua ảnh hưởng của Tin Mừng, biến đổi và canh
tân nhân loại” (PAH, số 18) như trong sách Khải huyền: “Giờ đây, Ta làm
cho toàn thể tạo vật đổi mới” (Kh 21, 5).
Mục tiêu của Phong Trào Cursillo không chỉ đơn giản là canh tân Giáo hội
mà là biến cải thế giới. Qua người giáo dân, nhờ phạm vi hoạt động đa
dạng của họ, để thế giới cải đổi một cách tươi đẹp hơn, và làm cho tinh
thần yêu thương, cũng như những lời chỉ dậy của Thầy chí Thánh thấm nhập
vào tâm hồn mọi người, trong đời sống xă hội, chính trị, kinh tế... của
các quốc gia trên thế giới. Phong trào muốn nhắn nhủ chúng ta, hăy biến
đổi môi trường sống bằng ánh sáng Tin Mừng, mà bước đầu tiên là tạo được
những liên hệ yêu thương bằng sự dấn thân của mỗi người Cursillista.
Mỗi Cursillista phải là chứng nhân Tin Mừng trong môi trường, sẽ trở nên
như men trộn trong thúng bột, để cả thúng bột được dậy men. Men
Cursillista luôn nồng với nền tảng “một tay nắm lấy Chúa và một tay nắm
lấy anh chị em”.
Phương pháp Cursillo gồm ba giai đoạn: Chọn lựa và nghiên cứu các môi
trường cần Phúc Âm hóa. Sau đó, t́m ṭi và chọn lựa các cá nhân có ảnh
hưởng trong các môi trường đó và mời họ tham dự vào các khóa Cursillo.
Tiếp theo, phong trào đem họ trở lại môi trường của họ, đồng thời giúp
họ t́m người cùng chí hướng qua các buổi hội nhóm và Ultreya để thực
hiện công tác Phúc Âm hóa môi trường.
Chúng ta đă được chọn gọi từ môi trường đă được nghiên cứu. Chúng ta đă
được trang bị kỹ lưỡng để gởi lại môi trường cho việc Phúc Âm hóa. Đến
nay chúng ta đă thực hiện thế nào với sự tin tưởng của Thầy chí Thánh?
Chúng ta thực sự đă là “Tin Mừng” hay chỉ là những tin buồn tin dữ?
Sau mỗi Thánh lễ, chúng ta lại được sai đi với lời chúc cuối lễ, chúng
ta đă rao truyền được những ǵ về Tin Mừng và ơn sủng mới lănh nhận?
Với chủ đề tháng này, giờ đây thật là lúc thích hợp cho chúng ta dừng
bước để tự vấn lương tâm trước lệnh truyền của Thầy: “Hăy đi loan báo
Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.
|