HĂY ĐI RAO GIẢNG

 Bản Tin tháng 9


“Về bản chất, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội truyền giáo, công việc chính của Giáo Hội là rao giảng Tin Mừng”. Đó là điều Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI nhắc đi nhắc lại trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi nhưng đầy ư nghĩa tại đền thánh Phaolô ngoại thành ở Rôma ngày 25 tháng 4 năm ngoái, khi ngài vừa nhận lănh sứ vụ thánh Phêrô. Thật vậy, trước mộ thánh Tông Đồ dân ngoại, ngài đă cầu xin cho: “Toàn thể Giáo Hội, các giám mục, và cộng đồng dân Chúa được vui mừng rao giảng và làm chứng Tin Mừng cho mọi người”.
 

Lời cầu xin thiết tha này được phát sinh là để đáp ứng lại lệnh truyền của Chúa Giêsu khi xưa: “Hăy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).
Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, Giáo Hội đă không ngừng rao giảng Tin Mừng “lúc thuận tiện cũng như lúc khó khăn” (2Tm 4,1). Công Đồng Vaticanô II đă khẳng định Giáo hội mang bản chất truyền giáo và vạch ra một hướng mới trong việc Phúc Âm hóa qua ba văn kiện căn bản: Hiến chế Tín Lư về Giáo hội, Sắc lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội và Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân. Khóa họp Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1974 đă chọn việc rao giảng Tin Mừng làm chủ đề và Tông huấn Phúc Âm hóa thế giới ngày nay là kết quả của kỳ họp đó.
 

Đức Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng rất tích cực trong việc rao giảng Tin Mừng. Ngài đă công bố nhiều thông điệp, tông thư về truyền giáo. Đặc biệt trong tông thư Bước Vào Thiên Niên Kỷ Mới, ngài luôn luôn nhắc đến công tác Phúc Âm hóa như là sứ mệnh quan trong nhất trong thế kỷ 21. Ngài mời gọi mọi người “Hăy ra khơi”.
 

“Ra khơi” không phải là công việc của riêng ai, mà là của tất cả mọi tín hữu. Thực vậy, bằng đức tin và phép rửa, “Dân thánh của Thiên Chúa được tham dự chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô” (Glư HTCG 785), và “Tất cả các phần tử của Hội Thánh, mỗi người một cách đều được sai đi” (Glư HTCG 863), mà “Mỗi người được gọi riêng và không ai được quyền từ chối trả lời, v́: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1 Cor 9,16) (NTHGD 33).
Trước khi ban lệnh truyền các tông đồ đi rao giảng, chính Chúa Giêsu đă thực hiện và làm gương cho chúng ta noi theo. “Chính Chúa Giêsu, Tin Mừng của Thiên Chúa, là người rao giảng đầu tiên và quan trọng nhất” (PAH 7).
 

Phúc Âm thánh Luca (4,17-21) cho thấy Chúa Giêsu đă được Thánh Thần xức dầu, tấn phong, được Chúa Cha xác nhận là người Con chí ái và được Chúa Cha sai đi rao giảng Tin Mừng. Ngài được xức dầu, nghĩa là được phong vương, lại được sai đi rao giảng cho những người nghèo khó, đui mù, tù đầy, bị áp bức đúng như lời ngôn sứ Isaia đă loan báo: “Thần khí Chúa ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm ḷng tan nát, tuyên cáo lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, loan tin cho người mù biết sẽ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”.
 

Tin Mừng Chúa Giêsu đem đến là sự sống đích thực cho con người: b́nh an, hạnh phúc trong t́nh yêu thương và ơn cứu độ giải phóng con người khỏi sự chết. Chúa Giêsu chẳng bao giờ nói những lời hư từ. Những Lời Ngài nói đều là “những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68) kèm theo những việc làm cụ thể. Trước nhiệt t́nh dân chúng chăm nghe Lời Chúa đến quên mệt quên ăn, Ngài “chạnh ḷng thương” và nuôi họ ăn no...
 

Sau khi Chúa Giêsu về trời, là lúc Chúa Thánh Thần hoạt động cách đặc biệt trong Giáo Hội, cách riêng trong lănh vực truyền giáo, Chúa Thánh Thần là tác nhân chính. Công cuộc truyền giáo được thực hiện nhờ sức mạnh, nhờ lửa và ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.
 

Trước ngày lễ Ngũ Tuần, các tông đồ vẫn c̣n sống trong ṿng u tối, dù rằng các ngài đă đi theo Thầy Chí Thánh, đă được Thầy hướng dẫn, chỉ dậy, vén mở chân lư, nhưng trí các ngài vẫn bị che mờ v́ Chúa Thánh Thần chưa tới. Nhưng, trong ngày lễ Ngũ Tuần, khi Chúa Thánh Thần lấy h́nh lưỡi lửa đổ xuống trên đầu các ngài, biến đổi tâm trí của các ngài, khiến các ngài mạnh dạn, kiên cường, mở tung cánh cửa đang khép kín v́ sợ người Do Thái, rảo bước khắp nơi để rao giảng và làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh. Chúa Thánh Thần đă biến đổi các ngài trở nên những người hoàn toàn mới với tinh thần mới, cung cách sống mới, suy nghĩ và hành động mới.
 

Như vậy, để công cuộc truyền giáo có kết quả, những sứ giả Tin Mừng cần ra đi với một nhiệt t́nh tông đồ mới do Chúa Thánh Thần soi dẫn. Bởi v́ mỗi nơi, mỗi thời đại có nền văn hóa khác nhau, năo trạng khác nhau, cách hiểu khác nhau... nên người rao giảng Tin Mừng phải t́m kiếm những h́nh thức thích ứng để làm cho Tin Mừng được người ở vùng đất đó, thời đại đó hiểu và đón nhận. Đức GH Phaolô VI, trong Tông huấn Phúc Âm hóa thế giới ngày nay đă viết: “... Các h́nh thức Phúc Âm hóa thay đổi tùy theo những hoàn cảnh khác nhau về thời gian, không gian, văn hóa, do đó chúng như thách thức khả năng khám phá và thích ứng của chúng ta”.
 

Ngày xưa, công việc truyền giáo chủ yếu là trực tiếp rao giảng Tin Mừng, nay lại thiên về các hoạt động từ thiện, bác ái xă hội, kết hợp giữa lời nói và việc làm. Trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc, Đức GH Gioan Phaolô II nói: “Tôi cám ơn các nhà truyền giáo, nhờ sự hiện diện đầy t́nh mến và sự phục vụ khiêm tốn đă hoạt động cho việc phát triển toàn diện con người cũng như xă hội; nhờ các cơ sở giáo dục, các trung tâm sức khỏe, các trại phong, các nơi chăm sóc những người già cả và tàn tật, những sáng kiến thăng tiến phụ nữ và nhiều điều khác nữa... Quả thực, chính những công việc ấy đă làm chứng cho tinh thần của mọi hoạt động truyền giáo. Đó là t́nh yêu thương, vẫn măi măi là động cơ thúc đẩy việc truyền giáo”.
 

Ngoài ra, “thế giới nào con người ấy”. Thế giới hôm nay là thế giới của khoa học kỹ thuật, ngành truyền thông có sức ảnh hưởng sâu rộng trên tất cả mọi con người. Và v́ thế, chúng ta cũng phải sử dụng những phương tiện truyền thông để Phúc Âm hóa chính môi trường này và có thể giao tiếp rộng răi với con người hôm nay. Nhờ phương tiện này “việc rao giảng về Chúa được thực hiện như thể trên mái nhà” (PAH 45). Huấn thị của hội đồng Giáo Hoàng về truyền thông xă hội ngày 23/5/99 đă viết: “Chúng ta cần phải đưa sứ điệp Tin Mừng vào trong nền văn hóa mới do các phương tiện thông tin hiện đại tạo ra. Đây là một vấn đề khá phức tạp v́ nền văn hóa mới này không chỉ khai sinh từ bất kỳ nội dung thông tin nào, mà c̣n từ sự kiện. Hiện nay đang có những cách truyền thông mới, với những ngôn ngữ mới, với những kỹ thuật mới và một tâm lư mới”.
 

Một trong những cái “mới” rộng lớn và hữu hiệu ngày nay chính là Internet mà chúng ta cần quan tâm. Đây là con dao hai lưỡi vừa có thể hủy hoại tinh thần con người, mà vừa là phương tiện tốt cho việc rao giảng Tin Mừng. Trong Bản Tin tháng trước nơi trang 48 có nói qua về vấn đề này. Đức TGM John Foley, Chủ tịch Hội đồng GH về truyền thông xă hội nhắc đến Internet đă là chủ đề được đề cập đến trong Thông điệp của ĐGH Gioan Phaolô II nhân ngày ruyền thông thế giới năm 2002 và trong hai tài liệu của Hội đồng: “Giáo Hội và Internet” và “Đạo đức học trong Internet”. Ngài xác định Internet là một phương thế để rao giảng trong thời đại hôm nay. Ngài nói thêm: “Trong số hàng triệu người dùng Internet hằng ngày, có nhiều người có thể t́m thấy được một lời của hy vọng. V́ vậy Internet có thể là đường lối mới Chúa dùng để mang Tin Mừng đến mọi nơi, để đến với những người sống trong cô đơn, không bao giờ mở cửa nhà ḿnh”.
Phong trào Cursillo, một phong trào của Giáo Hội, luôn dấn thân trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Phong trào thực hiện việc rao giảng bằng phương thế “Phúc Âm hóa môi trường”. Đây là một lựa chọn căn bản của phong trào theo đúng với tinh thần của Giáo Hội như Đức GH Phaolô VI đă định nghĩa: “Đối với Giáo hội, Phúc Âm hóa là đem Tin Mừng đến mọi giai tầng trong nhân loại, và qua ảnh hưởng của Tin Mừng, biến đổi và canh tân nhân loại” (PAH, số 18) như trong sách Khải huyền: “Giờ đây, Ta làm cho toàn thể tạo vật đổi mới” (Kh 21, 5).
 

Mục tiêu của Phong Trào Cursillo không chỉ đơn giản là canh tân Giáo hội mà là biến cải thế giới. Qua người giáo dân, nhờ phạm vi hoạt động đa dạng của họ, để thế giới cải đổi một cách tươi đẹp hơn, và làm cho tinh thần yêu thương, cũng như những lời chỉ dậy của Thầy chí Thánh thấm nhập vào tâm hồn mọi người, trong đời sống xă hội, chính trị, kinh tế... của các quốc gia trên thế giới. Phong trào muốn nhắn nhủ chúng ta, hăy biến đổi môi trường sống bằng ánh sáng Tin Mừng, mà bước đầu tiên là tạo được những liên hệ yêu thương bằng sự dấn thân của mỗi người Cursillista.
 

Mỗi Cursillista phải là chứng nhân Tin Mừng trong môi trường, sẽ trở nên như men trộn trong thúng bột, để cả thúng bột được dậy men. Men Cursillista luôn nồng với nền tảng “một tay nắm lấy Chúa và một tay nắm lấy anh chị em”.
 

Phương pháp Cursillo gồm ba giai đoạn: Chọn lựa và nghiên cứu các môi trường cần Phúc Âm hóa. Sau đó, t́m ṭi và chọn lựa các cá nhân có ảnh hưởng trong các môi trường đó và mời họ tham dự vào các khóa Cursillo. Tiếp theo, phong trào đem họ trở lại môi trường của họ, đồng thời giúp họ t́m người cùng chí hướng qua các buổi hội nhóm và Ultreya để thực hiện công tác Phúc Âm hóa môi trường.
 

Chúng ta đă được chọn gọi từ môi trường đă được nghiên cứu. Chúng ta đă được trang bị kỹ lưỡng để gởi lại môi trường cho việc Phúc Âm hóa. Đến nay chúng ta đă thực hiện thế nào với sự tin tưởng của Thầy chí Thánh? Chúng ta thực sự đă là “Tin Mừng” hay chỉ là những tin buồn tin dữ?
 

Sau mỗi Thánh lễ, chúng ta lại được sai đi với lời chúc cuối lễ, chúng ta đă rao truyền được những ǵ về Tin Mừng và ơn sủng mới lănh nhận?
 

Với chủ đề tháng này, giờ đây thật là lúc thích hợp cho chúng ta dừng bước để tự vấn lương tâm trước lệnh truyền của Thầy: “Hăy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”.
 


.