HĂY SẴN SÀNG

 

 

Tom

 

Đời tôi đă hai lần kề bên sự chết. Một lần c̣n rất nhỏ ở dưới quê và một lần trên đường vượt biển t́m tự do tại đảo Natuna, Nam Dương.
 

1.
Quê tôi nghèo khổ lắm, năm nào cũng phải trải qua một mùa nước lụt, mà danh từ báo chí bên nhà bây giờ gọi là "sống với lũ". Nước bắt đầu dâng cao từ khoảng tháng 8, cao điểm là giữa tháng 10 và rồi nước rút dần cho tới tháng 12.
 

Khi mới về định cư, mọi thứ đều thấp so với mực nước lụt. Đường kinh ngập. Lối đi ngập. Sân nhà ngập nên khắp nơi là nước, nước mênh mông. Có những năm lụt lớn, ở nhà cứ việc ngồi trên giường kê cao mà câu cá, hay ngồi trong nhà thà thờ vừa đọc kinh vừa nghịch nước, đôi khi c̣n bị cá ḷng tong đến rỉa chân! Đâu đâu cũng nước, nên tai nạn lúc nào cũng có thể xảy ra, chả thế mà mỗi năm đều có nhiều người chết đuối, đương nhiên đa số là trẻ em. Trước những nguy hiểm như vậy ai cũng đành cam phận, v́ chẳng biết làm ǵ hơn ngoài việc mỗi năm tranh thủ đắp cao lên dần và bắt con em tập bơi. Ở đây hầu như ai cũng biết bơi, nhiều đứa trẻ c̣n bé tí nhưng đă bơi giỏi như rái cá. Tôi thuộc loại biết bơi trễ v́ nhát gan, không dám cho "chuồn chuồn cắn rốn" (như mấy đàn anh hù và xúi dại), tí nữa th́ rơi vào cảnh "hoa thơm Chúa hái sớm"!!! (dân làng thường an ủi nhau như vậy).
 

Chỗ nào cũng nước nên phương tiện di chuyển chỉ là con thuyền nhỏ hay những bè chuối thô sơ. Mùa lụt khổ sở tù túng lắm, nhưng bù lại, có cá tôm ăn mệt nghỉ. Nào là chèo thuyền đi câu, đánh lưới, giăng câu. Nào là đánh rọ, đặt lờ... Người lớn hay trẻ con đều có thể kiếm được của ăn dễ dàng.
Tuy nước lớn, nhưng chẳng bao giờ tôi được miễn việc đi lễ. Đúng là một công đôi việc, vừa làm việc đạo đức, vừa một cách trông con. Hôm ấy hai mẹ con đi lễ sáng về, mẹ tôi lo nấu cơm sáng, c̣n một ḿnh chẳng biết làm ǵ nên tôi lén chèo thuyền ra mé ruộng phía sau chơi. Bắt mồi để dành đi câu chán, tôi đâm ra nghịch nước thú vị hơn. Đứng lên, cầm be chèo phạng xuống đám rong mọc ngoi theo mực nước, nơi được chừa lại sẽ làm sân lúa. Phạng hăng hái quá, mất thăng bằng, tôi lộn đầu xuống nước.
 

Rất may mắn tôi không hề bị mất tinh thần. Chân chạm đất, tôi biết nước mới ngập đầu không bao nhiêu. Bản năng sinh tồn giúp tôi quyết định nhún người xuống lấy đà đạp phóng lên để thở, cứ vậy mà làm tới. Cùng lúc, như một phản xạ, vừa phóng lên lấy không khí, vừa đọc kinh "Ăn năn tội" rồi sau đó mới hô hét to lên cầu cứu. Ông anh bà con ở nhà bên cạnh nghe thấy, vội phóng thuyền ra vớt về, và đương nhiên sau đó là một trận đ̣n te tua nhớ đời. Tội nặng như vậy chắc chắn mẹ tôi không thể nương tay. Đau lắm, nhưng đổi lại, tôi có kỷ niệm không thể quên và cảm nghiệm vô cùng quư giá, nhất là c̣n sống sót, chứ không bây giờ làm ǵ c̣n dịp chia với sẻ...
 

2.
Tôi đi vượt biên đầu tháng 11 năm 1980, một cuộc trốn chạy ly kỳ (nhưng không đến nỗi rùng rợn).
 

Bố vợ tôi có chiếc thuyền buồm, dự trù sẽ đi cả nhà một lượt, "được ăn cả, ngả về không", chứ không đành kẻ ở người đi. Một buổi tối có sự cố bất ngờ xảy đến, nên gia đ́nh quyết định phải đi ngay trong đêm, dù chưa chuẩn bị sẵn sàng, dù trời lặng gió khác chi ghe máy không có xăng dầu. Thế nhưng mọi sự đều được ổn định như một phép lạ (Ông cụ vẫn thường nói các thánh đưa gia đ́nh đi vượt biên). Tới lúc không thể chần chừ thêm, trời bỗng nổi gió, hai cánh buồm căng đẫy đưa thuyền rời bến và rẽ sóng tiến thẳng ra khơi không thua ǵ tầu máy lớn. Thuyền nương theo gió Đông trực chỉ Phi Luật Tân với hy vọng sẽ tới đất liền trong ṿng một tuần lễ.
 

Hai ngày êm đềm qua đi, radio báo tin sắp có băo lớn vùng biển Phi. Một quyết định bất đắc dĩ phải thực hiện: đổi lộ tŕnh xuôi Nam dù buồm không thuận gió. Hải tŕnh được vẽ lại, điểm an toàn gần nhất là đảo Natuna của Nam Dương. V́ không thuận gió nên thuyền không thể đi thẳng, mà phải đi theo h́nh chữ chi, hết đi chéo về hướng phải lại chéo về hướng trái một đoạn đường tương xứng. Tôi lo lắng vô cùng, đi kiểu này làm sao có thể chính xác theo đúng hải tŕnh, liệu thuyền sẽ đi về đâu? Tôi càng lo hơn nữa khi chẳng có chiếc tầu ngoại quốc nào đoái hoài tới, cứ nh́n thấy chúng tôi là nó đổi hướng chạy mất, làm như chúng tôi là hải tặc dữ dằn của thế kỷ thứ 19! Đón tầu ngoại quốc chán, chúng tôi bỏ cuộc, tiếp tục hải tŕnh. Và một điều làm tôi lo lắng thêm: trời lặng gió, biển êm như mặt nước hồ thu. Giời ạ, biển này mà gặp tầu máy th́ sướng rên mé đ́u hiu, nhưng thuyền buồm đành thả neo để tránh độ giạt của nước chảy. Dẫu mỏi mệt, những lời kinh trên thuyền vẫn gịn vang. Và có lẽ không đành ḷng trước những lời cầu tha thiết quá, trời biển động với cấp gió khá lớn xảy đến như bù lại hơn một ngày thuyền không chạy. Trời ơi, giờ mới thấy sự dũng mănh của biển cả. Chiếc thuyền lúc này như chiếc lá cỏn con khiêm tốn trồi lên hụp xuống theo từng con sóng cao ngất. Ai nấy mặt mày xanh lét sợ sệt, đâu mấy ai trên thuyền đă có dịp chịu đựng cảnh tượng kinh hăi này. Riêng mấy anh tài công kinh nghiệm, tuy mệt mỏi chống trả với sóng dữ, nhưng môi nở nụ cười trấn an bà con: "Cầu xin băo đừng lớn hơn, cỡ này không sao, thuyền càng đi nhanh, đố tầu máy nào theo kịp".
 

Quả vậy, dù gặp biết bao trở ngại, thuyền đă thấy đảo Natuna chiều ngày thứ 9 sau khi rời bến. Cho chắc ăn, thuyền chạy ḷng ṿng ngoài xa, đến sáng hôm sau mới cập bờ để tránh san hô. Mọi người thở phào khoan khoái. Thoát nạn. Không ai chết.
 

Không chết ngoài biển khơi, nhưng không thiếu những sự khó trên bờ. Đây là đảo do hải quân Nam Dương trấn giữ nên mọi sự đều thiếu thốn, khó khăn cho 128 người tỵ nạn, tất cả tập trung trong căn nhà sàn rộng và trống trải. Trong thời gian 18 ngày chờ tầu của Cao Ủy đến đón đi, hai lần dịch xảy đến cho bà con. Lần thứ nhất là dịch đau mắt, ai nấy đều kèm nhèm khó chịu mất mấy ngày trời v́ chẳng có thuốc men. Vừa nguôi ngoai lại đến dịch đau bụng "chảy té re". Tôi là người bị cuối và nguy hiểm nhất vào một buổi sáng sớm khi tất cả đang đọc kinh sáng.
 

Không những tôi cũng "té re" như mọi người, nhưng c̣n bị xuất huyết nên đau dữ dội, đau quằn quại chịu không muốn nổi dù tôi thuộc loại đau bụng kinh niên. Đau và mệt, tôi không c̣n đủ sức đi ra ngoài, mọi sự giải quyết tại chỗ để khổ cho người vợ đang bụng mang dạ chửa. Cầu cứu lính, họ ngại bị lây lan nên đến chích cho mũi thuốc giảm đau rồi chuồn vội và cho biết không giúp ǵ được thêm.
 

Đi hoài, đi không dứt. Ai nấy đều nghĩ tôi khó ḷng qua khỏi, ai nấy tỏ vẻ cảm thương và tiếc cho tôi. Mấy bà cụ đứng chung quanh đọc kinh râm ran cầu cho tôi qua khỏi, hay nếu Chúa muốn, cho tôi được chết lành. Hai bà mẹ vừa đọc kinh vừa chấm nước mắt.
Tôi b́nh thản chịu đựng và ngẫm nghĩ về quá khứ với những biến cố cuộc đời. Tôi nhớ lại lần chết đuối hụt năm xưa. Tôi cảm thấy thật b́nh an và im lặng thông công cầu nguyện cùng các bà, dọn ḿnh sẵn sàng.
 

Đến quá trưa, cầm ḷng không được, người chị họ đă liều chích cho tôi một trong hai mũi thuốc cầm máu được đem theo, mà đối tượng là hai bà bầu trên thuyền. Lạ lùng tôi giảm đau và đi thưa dần. Mọi người vui mừng và đề nghị chích tiếp mũi thứ hai cho dứt, nhưng tôi quyết định từ chối, phải để dành.
Thưa dần, thưa dần cho tới trưa hôm sau là dứt. Tôi mệt mỏi thở không ra hơi, chân tay không muốn động đậy, mắt trũng xuống và cảm thấy vướng như có ǵ che trong mắt. Lạ lùng hơn, dù chẳng hề được tiếp máu, dù kiệt sức không ǵ bồi bổ, hằng ngày chỉ cơm với chút cá khô mà tôi hồi phục nhanh chóng, để tuần sau cùng mọi người xuống tầu Flora chở sang trại Kuku, bỏ lại sau lưng một khoảnh đất nho nhỏ đâu đó tưởng như là mộ huyệt của ḿnh...
 

3.
Cho đến nay tôi vẫn thường nhớ về hai biến cố này như là bài học phải thực thi trong cuộc sống. Lúc nào cũng phải sẵn sàng. Đó là bài học mẹ tôi đă truyền dạy từ khi mới có trí khôn. Đó là lư do tại sao trong lúc chí nguy đến tính mạng, tôi không kêu cứu ngay mà lại đọc kinh "Ăn năn tội", dù lúc đó c̣n bé tí.
Ngày xưa, cho dẫu đă đi đọc kinh ở nhà thờ ban tối, trước khi đi ngủ mẹ tôi vẫn bắt phải đọc kinh thêm. Phần kinh này đơn giản gồm kinh lạy Cha, ba kinh Kính Mừng, kinh sáng danh, kinh cám ơn và phục xuống đọc kinh ăn năn tội "cách giọn". Mẹ tôi nhắc nhở hoài: "Chúa nói Chúa đến bất ngờ như kẻ trộm. Sự chết chẳng ai biết lúc nào, nên phải sẵn sàng, nhất là ban đêm", hay: "Chúa nói được mọi sự thế gian mà mất phần linh hồn th́ vô ích thôi con ạ". Mẹ tôi nói hoài và bắt tôi làm, dù lúc đó chẳng ư thức ǵ, nhưng nó đă ngấm sâu vào từng thớ thịt, nhiều khi phản xạ như thói quen. Không những thế, từ đó, tôi tập được sự sẵn sàng cho nhiều việc, nhất là về thời giờ. Tôi vẫn nghĩ, thời giờ đă được định sẵn cho mỗi công việc mà không giữ được, th́ nói chi đến "sự chết chẳng ai biết đâu".
 

Sẵn sàng cho sự chết, nên tôi hay nói đến sự chết mà nhiều người giật ḿnh không chịu, cho là nói "gở". Tôi nói gở hoài mà chưa thấy linh nghiệm, nên cứ nói hoài nói măi.
 

Càng nghĩ đến sự chết, tôi càng nhớ về mẹ tôi, đặc biệt trong mỗi tháng 11. Tôi cảm thấy mẹ tôi sống đạo hết sức đơn giản và cũng hết sức dễ dàng. Mẹ tôi thường hay nói "Chúa nói" về đủ việc này việc nọ. Tôi nghĩ mẹ tôi chưa hề mở Kinh Thánh ra đọc và cũng chẳng biết bao nhiêu về Kinh Thánh, nhưng Lời Chúa đă thật sự nên ngọn đèn soi bước mẹ tôi đi. Mẹ tôi không được đọc Kinh Thánh, nhưng Lời Chúa qua các thánh lễ, lời giảng dạy và qua ư kinh đọc hàng ngày đă thật sự xây đắp đức tin cho mẹ tôi. Cứ "Chúa nói" là mẹ tôi tin tưởng và sống theo, cùng dạy con cái làm theo. Tôi đă từng cảm thấy xấu hổ vô cùng v́ không làm được những điều mẹ tôi đă làm dù được học hỏi nhiều hơn, có nhiều phương tiện hơn.
 

4.
Viết xuống bài chia sẻ này nhân kỷ niệm ngày gia đ́nh đi vượt biên, ngày "giỗ" thứ 26 (ở nhà mọi người nghĩ rằng thuyền đă chết hết v́ biết có băo, mà lâu không có tin về như những thuyền khác. Nhiều thân nhân đă dâng lời cầu nguyện, xin lễ...). Nhớ đến từng người đă cùng nhau chia sẻ ngọt bùi trên con thuyền t́nh thương với ḷng tri ân và t́nh cảm đong đầy.
 

Viết xuống bài chia sẻ này cũng v́ nhớ đến mẹ và những điều mẹ dạy.
 

Mẹ tôi dạy: "Chúa nói ḿnh phải cám ơn".
 

Tôi cám ơn Chúa y như lời kinh cám ơn mẹ đă bắt tôi đọc. Tôi cám ơn Chúa đă cho tôi hai lần "thử lửa" và cầu xin măi được như vậy. Tôi cám ơn thêm Chúa đă cho tôi người mẹ tuyệt vời. Cho tôi có cơ hội nhiều nhất trong anh em để gần gũi mẹ, được ngủ bên mẹ và được mẹ chân truyền bí kíp.
Dẫu mẹ đă chết, tôi vẫn cám ơn mẹ "tháng năm chẳng ngại nhọc nhằn" để nuôi dưỡng và nhất là giáo dục, chỉ dạy tôi những điều "Chúa nói". Viết bài chia sẻ này để tri ân mẹ, ḥa với lời kinh cầu nguyện trong những ngày sắp đến giỗ mẹ 7 năm, kèm theo lời hát thiết tha: "Mẹ ơi, mẹ có biết hay không? Biết ǵ? Biết là con yêu mẹ hay không" mà trước kia con dở ̣m chẳng biết bày tỏ.
 

Tôi cám ơn những môi trường Chúa đă ban, là nơi trui rèn cá tính cho tôi, là nơi để tôi thực hành những bí kíp Chúa đă dậy qua những người, những biến cố Chúa gởi đến, đặc biệt là mẹ tôi. Tôi c̣n cám ơn môi trường đă tạo cho tôi có được những cảm nghiệm "thiên đàng tại thế", cách riêng môi trường gia đ́nh là vợ con yêu quư.
 

Mẹ tôi dạy: "Chúa nói Chúa đến bất ngờ như kẻ trộm". Nhớ và viết lại hai lần suưt chết này để càng sẵn sàng hơn, để cảm nhận rơ ràng hơn "sự chết chẳng ai biết đâu". Đúng là như vậy. Hai lần đó cứ như b́nh thường th́ giờ này thằng bé Tom đă tiêu tan, có chăng chỉ c̣n chút xương tàn và mọi sự rơi vào quên lăng, chứ có đâu được hân hạnh cùng đồng hành với anh chị em nơi đây. Và biết đâu một giây phút nào đó không ngờ tới...
Thôi th́ cứ sẵn sàng và sống lạc quan cho trọn những giây phút hiện tại

|


 

 



 


.