|
NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI
|
||
|
Bản Tin Tháng 12 |
||
|
Chuẩn bị mừng
lễ Giáng Sinh là dịp thuận tiện để chúng ta học hỏi và tuyên xưng Ngôi Lời chính
là Thiên Chúa từ muôn thuở, nay trở thành xác phàm đến cư ngụ giữa ḷng nhân
loại, và cũng để nhận lănh t́nh yêu Chúa ban. Dân Israel nhận
biết Thiên Chúa của riêng ḿnh như là Đấng nói với họ. Đó không phải một Thiên
Chúa khép kín và giam ḿnh trong cơi thinh lặng, một Thiên Chúa vô danh, xa cách
và gây ra sợ hăi; nhưng là một Thiên Chúa ngỏ lời với họ và cho họ biết các ư
định và ư muốn của Người, "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đă phán
dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ" (Dt 1,1). Người đă nói với Abraham, đă gọi
ông và đă ban cho ông lời hứa là muôn dân được chúc phúc (x. St 12,1-3). Qua
trung gian Môsê, Người đă giải phóng dân Người khỏi kiếp nô lệ và đi cho biết ư
muốn của Người đặc biệt trong "Mười điều răn". Nhờ các ngôn sứ, Người đă can
thiệp vào trong các t́nh cảnh khác nhau của lịch sử dân Người. Người đă ngỏ lời
với họ như là lời khuyên nhủ, lời khuyến cáo, lời hứa và lời động viên. Giáo Hội luôn ư
thức ḿnh sẽ không thể giải thích đầy đủ được thực tại này, như người ta có thể
giải thích các biến cố lịch sử b́nh thường, v́ đây là một mầu nhiệm cao cả của
Thiên Chúa. Mặc dầu vậy, Giáo Hội hằng duy tŕ và bảo vệ niềm tin của ḿnh vào
thực tại nhập thể, trong đó Chúa Giêsu đă làm người thực sự với đầy đủ trọn vẹn
ư nghĩa của hai chữ "làm người", hay nói theo ngôn ngữ thần học, Con Thiên Chúa
làm người là một chủ vị có hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân
loại. Ngôi Lời nhập thể đến ở với chúng ta, trở nên giống chúng ta để cứu độ
chúng ta như lời tuyên xưng trong kinh Tin Kính: "Người là Thiên Chúa bởi Thiên
Chúa... V́ loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đă từ trời xuống
thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đă nhập thể trong ḷng trinh nữ Maria,
và đă làm người". Các thánh sử
Mátthêu, Luca, Gioan và sau đó là thánh Phaolô đă vận dụng hết khả năng ngôn ngữ
của ḿnh để diễn tả mầu nhiệm, hay đúng hơn, phản ảnh niềm tin của ḿnh và chung
của cả Giáo Hội. Để minh chứng Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật, thánh Mátthêu đă lập một gia phả cho Người, để nói lên rằng Người có một ḍng dơi nhân loại và đích thị là con cháu nhà Đavít (x Mt 1,1-17). Tuy nhiên, Người cũng là Thiên Chúa, bởi v́ thánh Giuse chỉ là cha nuôi. Điều này được xác định trong tŕnh thuật Truyền Tin (x Mt 1, 18-25). Thánh Mátthêu đă khẳng định hai lần Mẹ Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Do đó, Chúa Giêsu là Emmanuel, Thiên - Chúa - cùng -
chúng - ta, đúng như lời ngôn sứ Isaia đă báo trước (Is 7,14). Thánh Luca cũng
lập cho Chúa Giêsu một gia phả loài người, nhưng ngay trong gia phả đó, ngài đă
chứng minh Người là con Thiên Chúa, như chính Ađam cũng là con Thiên Chúa (x Lc
3,23-38). Mầu nhiệm được mặc khải rơ nét qua sự giải thích của sứ thần về thắc
mắc của Mẹ Maria khi truyền tin: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng
Đấng Tối Cao sẽ che chở bà. V́ thế, hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng
Thánh, là Con Thiên Chúa" (Lc 1,35). Thực thể Chúa
Giêsu vừa là Con Thiên Chúa vừa là Con loài người được thánh Luca diễn tả trong
tŕnh thuật Giáng Sinh. Vào đêm đông giá rét năm ấy, thiên sứ báo tin cho các
mục đồng: "Hôm nay, Đấng Cứu Độ anh em đă ra đời trong thành vua Đavít. Người là
Đức Kitô, là Đức Chúa". Thiên sứ c̣n cho thấy rơ Chúa Giêsu được sinh ra b́nh
thường như mọi người: "Anh em sẽ gặp một trẻ sơ sinh bọc tă, nằm trong máng cỏ"
(Lc 2,12). Ngoài ra, khi thánh Luca ghi lại câu trả lời của Chúa Giêsu cho Đức
Mẹ lúc ông bà t́m thấy Người trong đền thờ: "Cha mẹ không biết là con có bổn
phận ở nhà Cha con sao?" để muốn nhấn mạnh về nguồn gốc thần linh của Người; th́
cũng không quên ghi tiếp sự tăng trưởng b́nh thường một cậu thiếu niên: "C̣n Đức
Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi
người thương mến" (Lc 2,52), để nói lên hai bản tính của Chúa Giêsu. Phần thánh
Gioan, "người môn đệ Chúa yêu", đă tuyên tín niềm tin một cách dứt khoát hơn.
Nguyên phần lời tựa, ngài đă viết về Ngôi Lời. Ngôi Lời là Thiên Chúa hằng hữu.
Ngôi Lời đă sáng tạo vũ trụ càn khôn. Ngôi Lời là sự sống và là ánh sáng của
nhân loại. Và tuyệt diệu hơn, ngài đă xác định: "Ngôi Lời đă làm người và ở giữa
chúng ta" (Ga 1,14). Thật là một chân lư diệu huyền và một thực tế đáng kinh
ngạc. Ngôi Lời hằng sống, Ngôi Lời sáng tạo nay lại trở thành xác phàm. Ngôi Lời
là Đấng tuyệt đối, vô hạn, là Đấng trường sinh bất tử đă phối hợp với bản tính
người phàm là tương đối, hữu hạn, và mang kiếp tử vong. Riêng thánh
Phaolô, con người ngă ngựa đă có sự sống thật nhờ ánh sáng Ngôi Lời, thường suy
tư về mầu nhiệm Chúa Kitô tự hạ, khiêm cung nơi thân phận con người trong các
thư gởi các cộng đoàn. Đặc biết thư gởi tín hữu Philipphê, ngài đă viết: "Đức
Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ đia vị
ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân
nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại c̣n hạ ḿnh,
vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2,6-8). Trái với tư
tưởng quân b́nh của các thánh sử, chúng ta v́ sự tôn kính, thường ít quan tâm
đến bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Hăy trả cho Chúa Giêsu khuôn mặt con
người thật của Người, v́ phủ nhận nhân tính của Người chính là phủ nhận chương
tŕnh cứu chuộc, phủ nhận t́nh yêu tuyệt vời của Thiên Chúa. Quà tặng t́nh yêu
vô giá mà Thiên Chúa muốn ban tặng nhân loại chính là việc cho Ngôi Lời nhập
thể, mang lấy thân phận mỏng ḍn, yếu đuối của nhân loại. Người đến để chia sẻ
với loài người, để đồng hành với con người trong mọi hoàn cảnh. Người đến để yêu
thương, để gánh lấy tội lỗi của nhân loại và cuối cùng chấp nhận hy sinh thân
ḿnh v́ nhân loại. Chúa Giêsu đă
hiện diện giữa ḷng nhân loại, chia sẻ cuộc sống trần thế với mọi người, và qua
việc chia sẻ đó, Người nói cho họ biết về t́nh yêu Chúa Cha trên trời. Người đă
không dùng đến từ ngữ cao siêu về một Thượng Đế xa vời nào đó, nhưng Người đă
nói bằng ngôn ngữ b́nh dân, một ngôn ngữ mà những kẻ quê mùa chất phác cũng hiểu
được. Ngôn ngữ của con người nói với con người, những lời tràn đầy tâm t́nh yêu
thương và liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày. Chúa Giêsu nh́n
thẳng vào cuộc đời, đón nhận nó một cách can đảm và nhiệt t́nh. Người không phải
là kẻ mơ mộng, mà cũng chẳng là nhà đạo hạnh cau có. Người yêu mến, quư trọng
mọi loài, mọi vật v́ Người yêu mến Chúa Cha. T́nh yêu đối với Chúa Cha không làm
giảm t́nh yêu đối với con người và cuộc sống trần gian, nhưng làm cho t́nh yêu
ấy nên sâu sắc hơn. Chúa Giêsu yêu
mến con người một cách tha thiết, dịu dàng. Người biết thông cảm sâu sắc với mọi
nỗi đau buồn của con người, như trong trường hợp với người cha vừa mất đứa con
gái, hoặc với người đàn bà góa tuyệt vọng đi theo quan tài đứa con độc nhất của
bà, hay với người đàn bà ngoại t́nh bị người Pharisiêu điệu tới trước mặt
Người... Tâm hồn Chúa
Giêsu xúc động mănh liệt trước nỗi cùng khốn của con người. Người chạnh ḷng
thương dân chúng bơ vơ, Người ở lại lâu với họ để dạy dỗ, an ủi và giúp đỡ họ.
Người rơi lệ khi đứng trước mộ của Ladarô, cũng như khi đứng trước thành phố
Giêrusalem mà Người biết sẽ bị tàn phá. Người không ngần ngại vi phạm luật cũ
kiêng việc xác ngày Sabát, để cứu giúp những người khốn khổ chạy đến với ḿnh,
dù biết là sẽ bị các nhà lănh đạo tôn giáo làm khó dễ. Những ǵ bé bỏng, hèn mọn
và bị khinh chê đều được Chúa ưu ái. Người không sợ phiền hà v́ trẻ em, Người
cho gọi các cháu đến, bế chúng vào ḷng, chúc lành và tuyên dương các cháu. Chúa Giêsu cũng
đón nhận các niềm vui của cuộc sống một cách đơn sơ và tận t́nh. Người không chủ
tâm t́m kiếm, nhưng khi hoàn cảnh đưa tới, Người vẫn vui vẻ đi ăn cưới. Để cho
niềm vui ngày cưới được trọn vẹn, Người không ngại làm phép lạ nước hóa rượu dù
"giờ của Người chưa đến". Người cũng không từ chối bạn bè khi được mời đi dùng
bữa, đến nỗi bị người ta vu cáo là người thích tiệc tùng chè chén. Cuộc thương khó
và cái chết của Chúa Giêsu cho chúng ta nh́n thấy rơ hai bản tính của Người,
nhất là phương diện nhân tính. Người lo âu, sợ hăi, buồn sầu, đau đớn... và
chết. Trên thập giá, trong niềm đau đớn hồn xác tột bậc, Người đă thốt lên: "Lạy
Chúa, lạy Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?" (Mt 27,46). Một tiếng kêu thật đầy
tính con người và đầy an ủi cho chúng ta. Người đă chịu khổ nên Người đă hiểu
được nỗi khổ của con người và cảm thương với nỗi yếu đuối của chúng ta. Như thế, suy
niệm về mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể cho chúng ta thấy trước hết Chúa Giêsu là
Thiên Chúa làm người và thực sự là người trọn vẹn như chúng ta ngoại trừ tội
lỗi, bởi thế Người cảm thông được mọi nỗi niềm và vấn đề của nhân loại (x Dt
4,15). Sau nữa là nhận ra ḷng yêu mến chân thành của Chúa Giêsu đối với con
người, chứng tỏ rằng con người có giá trị và cuộc đời đáng sống. Và quan trọng
hơn, mỗi người chúng ta nhận ra chương tŕnh cứu chuộc của Thiên Chúa trong ḍng
lịch sử, trong chính cuộc đời của mỗi người. Công Đồng
Vatican II đă viết trong hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng: "Ngôi Lời khi nhập thể,
một cách nào đó đă kết hợp với tất cả mọi người. Người đă làm việc với bàn tay
con người, đă suy nghĩ bằng trí óc con người, đă hành động với ư chí con người,
đă yêu mến với trái tim con người" (số 22). Chúng ta đă đón nhận Ngôi Lời nhập
thể thế nào trong cuộc đời chúng ta để Người hoạt động? Và: "Ngôi Lời
nhập thể đă bày tỏ cho con người thấy bản chất đích thực của chính ḿnh, và khám
phá ra ơn gọi cao cả của ḿnh" (số 22). Với ánh sáng của Ngôi Lời, chúng ta đă
nhận ra ơn gọi riêng ḿnh, để cùng với Ngôi Lời nhập thế Phúc Âm hóa thế giới
hay chưa? |