|
NÓI |
||
|
Tom |
||
|
Lúc trước tuy
có sự thương cảm với những người tàn tật, nhưng tôi chưa có được sự cảm thông
thực sự. Chưa thể cảm thông bởi v́ tôi là người lành lặn mà không chịu t́m hiểu
về những khó khăn người tàn tật phải chịu. Từ cái “biết” cho tới cái “cảm” c̣n
một khoảng cách không xa, nhưng nếu không bước tới th́ không thể cảm nhận được. Đầu năm Thánh
2000, tay tôi yếu và hay tê. Bác sĩ gia đ́nh sau khám nghiệm cho biết mấy đĩa
xương cổ tôi bị hư, đè vào giây thần kinh nên tạo ra hiện tượng như vậy. Bác sĩ
chuyên khoa giải thích tường tận về căn bệnh và t́nh trạng hiện tại của tôi. Ông
kết luận tạm thời cứ để vậy, v́ chỗ này giải phẫu rất nguy hiểm, để chừng nào
tay không cử động nữa mới nên giải phẫu, “năm ăn năm thua”! Về nhà tôi suy
nghĩ về một tương lai không mấy chi sáng sủa. Không có tay, mọi sinh hoạt hằng
ngày phải lệ thuộc vào người khác giúp đỡ. Để trấn an, tôi nhớ đến những người
cụt tay mà vẫn vẽ được những bức tranh, những tấm thiệp Giáng Sinh thật đẹp bằng
miệng. Tôi nhớ đến anh Tony Melendez là người không có đôi tay từ khi mới sinh,
nhưng anh nổi tiếng khắp thế giới. Anh có biệt tài sáng tác nhạc và dùng đôi
chân của ḿnh để đánh đàn guitar, anh được mời tŕnh diễn nhân dịp Đức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II đến Los Angeles ngày 15/9/1987. Nhưng tôi nghĩ đó là những
trường hợp đặc biệt và phải tập luyện từ lúc c̣n nhỏ, khi gân cốt c̣n mềm mại,
chứ xương tôi giờ muốn mục rồi c̣n tập tành được chi. Đă thế, hai năm
sau mấy đĩa xương lưng cũng đ́nh công luôn làm chân tôi đau yếu dần. Giải phẫu
hai lần mà không kết quả là bao. Tôi nhớ đến người bà con nằm liệt mười mấy năm
trời để tự an ủi, và chuẩn bị tinh thần cho những trạng huống được coi là xấu
nhất. Từ đấy tôi suy nghĩ nhiều hơn đến người tàn tật. Đă nhiều lần
tôi thử không dùng đến mắt để cảm thông với người mù. Tuy đỡ sự phụ giúp của
người khác, nhưng cũng nhiều khó khăn vô số kể. Ở trong nhà, lối đi, đồ đạc đă
thuộc ḷng và với sự trợ giúp của đôi tay lần ṃ, nhưng đi vẫn bị vấp váp. Chả
nói chi xa vời, tuy bây giờ mắt c̣n sáng, rủi lỡ quên mang kiếng mà được kêu đọc
sách bất ngờ, th́ cũng đành làm người mù chữ! Khổ thiệt. Thế mới biết thân thể
không trọn vẹn là một thiệt tḥi và cũng là thách đố rất lớn để vượt qua. Đến nơi sau hơn
bốn tiếng bay tuy hơi mệt và húng hắng ho, nhưng cũng đủ sức cùng cha tung tăng
dạo mát trong King Park và thăm viếng tượng đài lính Úc - Việt. Chiều tối người
thấy khó chịu, rát cổ nên đành kiếu người bạn về nghỉ sớm sợ bị bệnh th́ phiền
lắm. Ấy thế mà gần sáng tôi đă ho không ra tiếng, cố nói lắm cũng chỉ là một
giọng thều thào, và tới lúc chuẩn bị đi dự lễ 9 giờ, “đài” hoàn toàn tắt
tiếng... Nhờ cụ bà đọc
Ca Nhập Lễ chậm răi rơ ràng, tôi hiểu lơm bơm đó là lời xin Chúa ghé tai đoái
nghe lời con cái nguyện cầu, cũng như xin Chúa chở che trong ṿng tay yêu thương
của Chúa. Hợp ư, tôi cầu xin liên lỉ và xin thẳng cho tôi có tiếng lại, để cùng
thưa lễ với mấy ông bà già người Úc, chứ không chờ đến Thầy nhắc hỏi: “Con muốn
Thầy làm ǵ cho con?” như anh chàng mù Bartimê. Tôi nhớ đến phép lạ Thầy chữa
cho người vừa điếc lại vừa câm ở miền Thập Tỉnh. Tôi chờ Thầy nhổ nước miếng và
bôi vào lưỡi, vào họng tôi với lời phán: “Ephatha - hăy mở ra”. Vẫn không ǵ
thay đổi. Tâm trạng của người muốn nói mà không nói được thật là khó chịu. Trong
thánh lễ tôi chia trí quá v́ lần đầu tiên gặp t́nh trạng này. Măi cho đến khi
linh mục đọc lời truyền phép, tâm hồn tôi mới b́nh an. Phép lạ cả thể đang xảy
ra ngay trước mắt mà c̣n mong mỏi chi nữa. Chỉ một lời, tức khắc đă biến bánh
rượu thành Ḿnh Máu Chúa, huống chi việc cho nói được, đó là chuyện nhỏ. Và v́
là chuyện nhỏ mà Chúa không làm, chắc chắn ư Chúa muốn ǵ đây. Tôi cầu xin cho
được làm đẹp ư Chúa và tiếp tục hiệp dâng thánh lễ. Tới lúc chúc b́nh an, tôi
xăng xái đi bắt tay mấy cụ với nụ cười làm duyên tỏ thiện chí, khỏi sợ mấy cụ
cho là quân khinh người, các cụ có nghĩ ḿnh là thằng câm cũng chẳng sao. Sau lễ muốn
điện thoại liên lạc với anh em mà không làm sao được, nói chuyện với cha Mộng
Huỳnh cứ ú a ú ớ và tay quơ tứ tung. Cha thương hại, đi chợ mua bịch giá về ngâm
vào nước sôi cho tôi uống với lời dặn uống hết b́nh này, ngâm sái hai uống nữa.
Đến chiều, uống hết hai b́nh, chưa kịp tiếp “thang” thứ hai, hiệu quả thấy ngay:
đă có âm có tiếng dù rất nhỏ và khàn khàn. Nhà xứ rất yên
tĩnh, và suốt ngày nghỉ trong pḥng riêng, tôi suy nghĩ miên man qua hiện tượng
mất tiếng. Tiếng nói là
phương tiện giao tế, truyền thông tư tưởng và cảm thông với nhau. Chắc chắn Chúa
muốn con người dùng lời nói của ḿnh để cộng tác với Chúa trong việc cứu độ,
truyền rao Tin Mừng và xây dựng xă hội. Người ta thường
khích lệ nhau “hát hay không bằng hay hát”, nhưng về phương diện nói th́ rơ ràng
các cụ dạy không sai: “nói hay hơn hay nói”, v́ “nói lắm dễ sẩy miệng”. Mà miệng lưỡi
dễ sẩy thật, nhất là khi giận dữ, khi đă có tí ma men. Những lúc này lời ra ào
ạt chứ làm ǵ c̣n th́ giờ để “quay lưỡi bẩy lần” hay “ăn có nhai, nói có nghĩ”.
Tôi nhớ khi xưa c̣n là Trương Phi, mỗi khi con cái làm ǵ phật ư, cả xóm bị làm
phiền v́ tiếng hét của tôi, lúc đó con cái mặt xanh như tầu lá và hồn vía bay
vút tận chín tầng mây. Hét cho hạ lửa giận. Nói cho tỏa hơi men. Nói cho sướng
cái lỗ miệng. Khổ nỗi, sướng
miệng ḿnh nhưng lại dễ chết ḷng người, “miếng ngon nhớ lâu, lời đau nhớ đời”.
Nói mà không nghĩ khác nào đạn bắn tứ tung, càng bắn lại càng hăng. Nhiều khi tự
đắc “tôi thẳng tính lắm, thẳng như ruột ngựa”, có ǵ là nói liền, xây dựng nhau
là làm việc “bác ái” mà. Cứ tự phong làm bác sĩ, dược sĩ để bắt mạch rồi kê toa
và bắt bệnh nhân uống đúng tiêu chuẩn cha ông để lại: “thuốc đắng giă tật, nói
thật mất ḷng”. Có những lúc hăng hái quá, lại dùng chính Lời Chúa làm vị thuốc,
mà dùng không thích hợp hóa ra Lời Chúa trở thành đạn cho quân ta bắn quân ḿnh!
Nói bất chấp hậu quả, sẽ có phản ứng ngược, giă tật đâu chẳng thấy, chỉ thấy dập
nát tan tành. Đă không thiếu những trường hợp muốn giúp nhau làm ḥa với người
khác, nhưng v́ thiếu suy xét, thiếu tế nhị, không những anh chị em ḿnh không
làm ḥa được mà lại thêm một bất ḥa nữa; đôi khi nặng nề hơn, đẩy anh chị em
vào “ḍng kín” luôn. Thế là mất tích, biệt tăm. Thật là có lỗi
nếu tôi không dùng nên những hồng ân Chúa ban. Tôi nhột nhạt khi nhớ đến những
“thà” mà Thầy nói khi xưa. “Thà chặt, thà móc đi...” khi làm hư sự, khi làm cớ
vấp ngă cho ḿnh và nhất là cho người khác. Tôi biết đă có
những lần sai lỗi v́ chưa kiềm chế đủ miệng luỡi của ḿnh. Tôi hiểu cần phải cẩn
trọng lời nói, và tránh gây hậu quả không hay làm suy giảm đi t́nh yêu và bác
ái. Tôi nhớ đến một
loài chim sếu sống ở vùng núi Taurus miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Những con sếu này hay
kêu ba hoa ầm ĩ, nhất là khi đang bay. Tiếng ồn ào đó làm chim ưng chú ư, liền
sà xuống bắt lấy chúng ăn thịt. Để tránh tai họa, những con sếu dày dạn kinh
nghiệm đă nhặt đá sỏi để ngậm vào miệng. Nhờ vậy chúng không kêu được nữa, và
không trở thành bữa ăn cho loài chim ưng. Khôn thiệt, chim mà cũng biết giữ mạng
như sách Châm Ngôn dạy: “Giữ mồm miệng là bảo toàn mạng sống, khua môi múa mép
ắt phải thiệt thân” (Cn 13,3). Các cụ ta cũng
dạy chí lư lắm: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau”.
Một chữ “lựa” tưởng như đơn giản, nhưng quả là nhiêu khê. Thật vậy, mỗi người có
một tâm t́nh riêng, một suy nghĩ riêng, một hoàn cảnh riêng. Một sự nhỏ nhặt của
người này có thể là chuyện lớn của người khác hay ngược lại. Chỉ “lựa” được cho
đúng, khi tôi cảm thông và ḥa ḿnh vào hoàn cảnh thực tế của người khác. Đặt
ḿnh là người đeo bông hồng trắng, tôi sẽ dễ chia sẻ với người khổ đau v́ mất
mẹ. Đặt ḿnh là người có trọng bệnh, tôi sẽ dễ ủi an người khủng hoảng v́ bị
bệnh ung thư... Khi đă cùng “tần số”, chỉ cần một cái nh́n, một câu nói đơn sơ
cũng đă đủ, nói một cảm mười. Tri bỉ tri kỷ. Nói đến sự cảm
thông, ḥa đồng, tôi liên tưởng đến mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa đă làm người
và ở giữa nhân loại. Để Lời Chúa là Tin Mừng cụ thể cho con người, Người đă đem
Lời xuống tận hạ giới, theo với đời sống và tâm tưởng của con người. Để đưa con
người tới gần Chúa Cha, Người đă làm bạn đồng hành cùng chia sẻ ngọt bùi trong
thân phận con người yếu đuối, vất vả, đầy khổ đau. Để mọi người đón nhận ơn cứu
độ, Chúa Giêsu đă đến với con người thời đại của Người và loan báo ơn cứu độ
theo từng hoàn cảnh cụ thể và tâm t́nh của từng người hay từng nhóm người. Một
sự cảm thông, ḥa đồng tuyệt vời. Một bảo chứng cho niềm tin tưởng chắc chắn... Đương nhiên tôi
không cần phải thủ cẳng kỹ quá: “Chim khôn chưa bắt đă bay, người khôn ít nói ít
hay trả lời”, nhưng cũng cần nhiều lúc thinh lặng để suy xét, để nh́n lại. Những
khi không nên, tôi cũng phải làm theo loài chim sếu bỏ đá sỏi vào miệng, hay
bằng một cách nào đó để giữ mồm giữ miệng. Một lời nói ra, ba con ngựa Pharlap
cũng không đuổi kịp, và quan trọng hơn: “Trăm năm bia đá th́ ṃn, ngàn năm bia
miệng hăy c̣n trơ trơ”. Lỗi tội ḿnh Chúa tha thứ ngay khi thống hối, nhưng vạ
của tội th́ tôi phải trả đến “đồng xu cuối cùng”. Cám ơn Chúa đă
cho con một ngày mất tiếng. |