|
VAI TR̉ VÀ SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG THỜI ĐẠI MỚI |
||
|
NGUYỄN VĂN ĐÀN
|
||
|
(Bài chia sẻ trong Đại Hội Ultreya 2/2008) Kính thưa Đức ông Linh hướng Kính thưa quư anh chị Có một công chức trẻ tuổi nọ nơi công sở, vào giờ nghỉ trưa hôm ấy thay v́ xuống phố ăn trưa th́ anh ta ở lại văn pḥng để hoàn tất một số hồ sơ quan trọng c̣n dang dở. Trong khi đang cặm cụi với công việc th́ chàng nghe văng vẳng phía hành lang bên cạnh có tiếng đối đáp của hai người nhân viên khác đang ngồi ăn cơm trưa và tṛ chuyện với nhau. Một anh nói: - Này, mày có biết thằng Tuấn bị đuổi việc rồi không? Nghe đâu nó ăn cắp đồ của sở nên bị đuổi. Anh kia sửng sốt hỏi lại - Thế à, nhưng có chắc là nó ăn cắp không hay lại vu khống cho nó. Tao biết gia đ́nh nó rất rơ, nó là một người theo đạo công giáo rất tốt lành th́ làm ǵ có chuyện ăn cắp với ăn trộm được?! Anh công chức trẻ nọ nghe hết cuộc đối thoại của hai nhân viên ḿnh về anh Tuấn bị mất việc nào đó đă bị dằn vặt bởi câu nói: NÓ LÀ NGƯỜI THEO ĐẠO CÔNG GIÁO RẤT TỐT LÀNH TH̀ LÀM G̀ CÓ CHUYỆN ĂN TRỘM HAY ĂN CẮP. Từ đó anh suy nghĩ, t́m hiểu đạo Công Giáo và trở lại, sau đó đi tu, làm Linh mục và trở thành một vị giáo sư triết học và cũng là một vị giảng thuyết thời danh của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trước năm 1975. Đó chính là linh mục Bửu Dưỡng, có lẽ nhiều người trong chúng ta đă từng nghe tiếng Ngài. Thưa quư anh chị Qua câu chuyện trên đây phần nào cũng đă xác định được vài tṛ và sứ mệnh của người Giáo dân cần phải có trong Giáo hội Công Giáo. Người giáo dân "là những Kitô hữu, là người có Chúa Kitô hiện hữu trong họ, đă được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đă trở nên Dân Thiên Chúa. Họ là những người đang thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của ḿnh... V́ ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận t́m kiếm Nước Thiên Chúa, bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày, trong gia đ́nh và ngoài xă hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ trong bột, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của ḿnh". (Công Đồng Vatican 2, Hiến Chế Về Hội Thánh, số 31. và số 33; Tông Huấn Người Tín Hữu Giáo Dân) Trong bài chia sẻ hôm nay tôi xin được tŕnh bày về vai tṛ và sứ mệnh của người Giáo dân trong thời đại mới. I.- VAI TR̉ NGƯỜI GIÁO DÂN Nh́n vào lịch sử Giáo Hội Công Giáo. Ngay ở Việt Nam, khi đến truyền giáo tại đất nước chúng ta, các vị thừa sai đă quan tâm t́m kiếm những người giáo dân có tinh thần và khả năng phục vụ, để cộng tác với ḿnh chăm sóc các giáo đoàn c̣n non trẻ, đặt họ làm trùm, làm chức việc, làm thầy giảng. Một bằng chứng hùng hồn của sự cộng tác này là trong số 117 thánh tử đạo, đă có đến 14 thầy giảng, 44 giáo dân và 1 chủng sinh, 50 linh mục (13 nước ngoài và 37 Việt Nam) và 8 giám mục. Trong chương 4 của Thánh Công Đồng Vaticanô II đă đặc biệt chú ư đến vai tṛ của các tín hữu giáo dân, khi dành cho họ cả một chương, trong Hiến Chế Giáo Hội Lumen Gentium, chương 4, để xác định vai tṛ và sứ mệnh của họ, được đặt nền móng trong Bí Tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, nhằm “ t́m kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ư Thiên Chúa” (số 31). Ngày 18 -11-1965, các Nghị Phụ đă thông qua Sắc Lệnh Tông Đồ Giáo Dân, Apostolicam actuositatem. Sắc lệnh này nhấn mạnh rằng hoa quả của việc tông đồ tùy thuộc vào sự kết hiệp sống động của họ với Chúa Kitô (số 4)". "Thánh Công Đồng Nhân Danh Chúa hết sức kêu mời tất cả giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Thánh Thần, hăy mau mắn, đại độ và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Chúa Kitô, Đấng giờ đây đang tha thiết mời gọi họ... Quả thật, chính Chúa một lần nữa nhờ Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hăy kết hiệp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những ǵ của Người cũng là của chính ḿnh (x. Ph 2,5), họ hăy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Người sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến". (số 33) Kính thưa quư anh chị, Công Đồng Vatican II đă xuất hiện như một mùa xuân trong Giáo Hội và đưa ra những định hướng mới. Sự đóng góp của Công đồng cho Giáo hội không phải chỉ nằm ở những bản văn, mà là đă khai mở một hướng đi mới và một cái nh́n khác về mối tương quan giữa Giáo hội với thế giới ngày nay, cũng như về vai tṛ của giáo dân trong ḷng Giáo Hội. A. Những điểm lạc quan Người tín hữu Việt Nam nơi hải ngoại vẫn thường được các giám mục Hoa Kỳ, Úc châu, mỗi khi có dịp các Ngài đến viếng thăm cộng đồng, giáo xứ Người Việt đều ca ngợi là có ḷng đạo nhiệt thành qua các h́nh thức, nghi lễ bề ngoài, rước sách linh đ́nh, sầm uất. Đó cũng chính là những điểm nổi của ḷng sùng đạo" của dân ta. Tuy nhiên nếu b́nh tâm suy nghĩ chúng ta sẽ không khỏi băn khoăn tự hỏi: đó là lối giữ đạo theo tập tục cổ truyền hay đường hướng sống đạo theo tinh thần Vatican II? Thượng hội đồng Giám mục Á châu cũng công khai nh́n nhận vai tṛ của giáo dân trong Giáo hội hôm nay. Trong "Sứ điệp" gởi cộng đ̣an Dân Chúa, các giám mục Á châu khẳng định: "Giáo dân có một vai tṛ quan trọng trong Giáo hội ở ngàn năm thứ ba. Có nhiều dấu hiệu chứng tỏ Chúa Thánh Linh đang chuẩn bị để giáo dân giữ một vai tṛ ngày càng quan trọng hơn trong Ngàn năm thứ ba, Ngàn năm có thể được gọi là kỷ nguyên của giáo dân. Trong số các dấu hiệu ấy, người ta ghi nhận sự dấn thân của giáo dân trong công cuộc truyền giáo, việc tham gia vào sinh hoạt của Giáo hội và tích cực hăng hái tham dự các cộng đ̣an Kitô hữu nền tảng." Dĩ nhiên, "để giáo dân có khả năng họat động biến đổi các cơ cấu xă hội, văn hóa, chính trị và kinh tế trong thế giới hôm nay", hàng Giáo phẩm có trách nhiệm "truyền thông cho họ một kiến thức đầy đủ về giáo huấn xă hội Công giáo và giáo huấn của Giáo hội về các vấn đề luân lư đạo đức." Trong suốt hơn 40 năm qua tại nhiều nơi trên thế giới, giáo dân đă bắt đầu thực hiện sứ vụ ngôn sứ, tư tế và vương giả của ḿnh, bằng nhiều cách thế và dưới nhiều dạng thức khác nhau. Tại một vài nơi, khi vắng bóng linh mục, chính người giáo dân điều khiển việc cử hành phụng vụ Lời Chúa, làm thừa tác Thánh Thể, thừa tác viên bí tích thánh tẩy, hôn phối. Một số giáo dân đảm nhận chức vụ tuyên úy bệnh viện, nhà tù, giáo lư viên, thành viên Hội đồng Mục vụ, Chưởng ấn tại các giáo phận, giáo sư tại các phân khoa thần học hay các Đại Chủng viện... Cũng chính giáo dân đảm trách việc quản trị kinh tế trong giáo xứ cũng như giáo phận. Một số giáo dân tham gia vào những công việc mà trước đây chỉ giới giáo sĩ mới có khả năng làm: suy tư và nghiên cứu thần học, mục vụ, dạy triết học thần học, chú giải Thánh Kinh, cộng tác vào việc đào tạo chủng sinh tu sĩ, viết sách báo thần học, nghiên cứu và đề nghị những hướng đi cho Giáo Hội địa phương, v.v... B. Những điều cần xét lại Thế nhưng những biểu hiện trên chưa khẳng định được rằng giáo dân Việt Nam nói chung đă đáp trả lời kêu gọi của Công Đồng Vaticanô II để chứng tỏ ḿnh là cộng tác viên của Chúa, cộng tác vào cùng một công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng nhiều h́nh thức và phương tiện khác nhau (Apostolicam Actuositatem, số 33). Quả thế, việc giữ đạo của phần đông giáo dân c̣n bó hẹp trong phạm vi khuôn viên nhà thờ, là môi trường “đạo”; không liên hệ ǵ đến cuộc sống hằng ngày nơi gia đ́nh và trong xă hội, là môi trường “đời”! Ngoài những sinh hoạt đạo đức thuần túy như cha ông chúng ta đă “giữ đạo” cách đây hằng trăm năm, th́ những nét đổi mới trong năo trạng và cách sống đạo chỉ mới xuất hiện rải rác một vài nơi và ở một số người rất ít. Cách giữ đạo của đa số tín hữu vẫn là ở mức độ giữ một thói quen hơn là t́m hiểu, đào sâu, hầu áp dụng đức tin vào cuộc sống. Những lối sùng kính mang nặng t́nh cảm, nhiều khi lẫn lộn với những biểu hiện dị đoan, c̣n rơ nét ở rất nhiều người. Trong khuôn viên nhà thờ, tinh thần cộng tác với chủ chăn thường là thái độ vâng phục thụ động hơn tinh thần tích cực, có trách nhiệm và có sáng kiến của một người thể hiện đúng mức vai tṛ và sứ mạng giáo dân của ḿnh! Ngoài xă hội, nếp sống tin mừng như một nhà truyền giáo, bằng lời nói và việc làm, hầu như thiếu vắng hoàn toàn. Cứ so sánh một giáo dân Công Giáo b́nh thường và một tín đồ Tin Lành b́nh thường th́ sẽ thấy ngay rằng người giáo dân Công Giáo khá thờ ơ trong nhiệm vụ rao giảng phúc âm cho người chưa biết Chúa. Tŕnh độ về tín lư của đa số giáo dân vẫn c̣n ở mức giáo lư Thêm Sức hay Bao Đồng, và kiến thức đạo được nuôi dưỡng chủ yếu là bằng các bài giảng của linh mục ngày Chúa nhật, mà mức độ tiếp thu nhiều khi rất hạn chế; đó là chưa kể những trường hợp mà, tại không ít giáo xứ hay Cộng đồng, linh mục bận rộn đến độ không c̣n th́ giờ để chuẩn bị bài giảng cho súc tích và gần gũi với đời sống thực tế của giáo dân. Nh́n chung th́ tại các Giáo xứ, các Cộng đồng Việt Nam, các sinh hoạt đạo đức ở nhà thờ, không bao giờ vắng người, nhưng nếu đ̣i hỏi nơi giáo dân một “đức tin trưởng thành để đối diện với những thách đố ngày nay” như sự mong mỏi của Giáo Hội, th́ c̣n một khoảng cách thật xa chưa bắt kịp được. V́ sao có một thực trạng như thế? II. SỨ MỆNH NGƯỜI GIÁO DÂN Nguyên nhân gây ra t́nh trạng này th́ có nhiều. Có thể do một năo trạng lâu đời của người Việt, được h́nh thành qua nền luân lư Khổng Mạnh, trong đó có các bậc “thánh hiền” đưa ra những chuẩn mực tối thượng và ḿnh chỉ vâng theo mà không cần và không có quyền đặt lại vấn đề cho đời sống tâm linh của ḿnh! Có thể do một lịch sử đặc thù, trong đó người công giáo luôn ở vị thế thiểu số, bị bách hại và không có quyền lên tiếng để tuyên xưng đức tin một cách minh nhiên. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một “cơ chế” Giáo Hội trong hoàn cảnh thực tế Việt Nam khiến cho người giáo dân Việt Nam không thấy rơ được ḿnh là ai. Và khi không biết được ḿnh là ai dưới ánh sáng Công Đồng, th́ dĩ nhiên sẽ không thể nào đáp ứng được ơn gọi và sứ mệnh của ḿnh! Vậy người giáo dân là ai? Giáo Dân là một Kitô hữu đặc biệt. Họ là một Kitô Hữu thuộc thành phần thứ ba trong Giáo Hội Công Giáo (và chỉ trong Giáo Hội Công Giáo mà thôi). Hai thành phần kia là giáo sĩ và tu sĩ! Nói một cách đơn giản th́ trong cộng đồng Công Giáo có 3 thành phần, gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, và các thành phần sống hiệp thông với nhau trong ơn gọi và sứ mệnh đặc thù của ḿnh như một chi thể trong Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô, và Thân Thể ấy chính là Giáo Hội! Điều này rất phù hợp với Kinh Thánh khi ta nh́n lại Giáo Hội sơ khởi, theo lời thánh Phaolô: "Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa... Anh em là Thân Thể Chúa Kitô, và mỗi người là một bộ phận" (1Cr 12, 4.5.27). Thế nhưng, trên thực tế th́ không đương nhiên là như vậy. Bởi v́ Giáo Dân không chỉ là một Kitô Hữu sống trong môi trường trần thế, mà người ta gọi là tục, và Giáo Sĩ và Tu sĩ không chỉ là một Kitô Hữu sống trong môi trường tôn giáo, mà người ta gọi là thánh. Trái lại, rất lâu trong lịch sử, giáo dân được xem là những kẻ dưới quyền cai trị của giáo sĩ! Hơn 40 năm sau Công Đồng Vaticanô II, sự hiểu biết về đạo Chúa của đa số giáo dân Việt Nam cũng không có sự thay đổi đáng kể, trong nước cũng như ngoài nước. Giáo dân không được khuyến khích và chuẩn bị để trưởng thành về mặt đạo, hoàn toàn lệ thuộc vào giới giáo sĩ từ việc nhỏ đến việc lớn. Giáo dân sống đạo thụ động, không dám chủ động hay có sáng kiến ǵ. Thực tế này cần phải thay đổi để người Giáo dân ư thức và nhận ra SỨ MỆNH của ḿnh là được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô theo cách thức của họ. Nhiều người cho rằng trong thánh lễ, người giáo dân được đọc sách thánh, dâng lời nguyện giáo dân, dâng bánh rượu lên cho chủ tế, làm thừa tác viên Thánh Thể... ấy là đă thực hiện trọn vẹn chức tư tế theo bậc sống của ḿnh. Nhưng rất ít người nhận thức rằng sứ mệnh TƯ TẾ của người giáo dân thực thi chức tư tế của ḿnh, bằng cách chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, v́ lợi ích của Thân Thể Ngài là Hội Thánh, để thánh lễ trở nên nguồn mạch và tuyệt đỉnh cho đời sống Kitô hữu, th́ chức tư tế của ngừoi tín hữu giáo dân mới hiện tại hóa ơn cứu độ của Ngài cho muôn dân! Nhiều người cho rằng ḿnh đă là một ngôn sứ, khi chia sẻ một vài đoạn phúc âm trong giờ cầu nguyện, hoặc góp phần giảng dạy giáo lư cho trẻ em, và như thế đă hoàn thành chức ngôn sứ theo bậc sống ḿnh. Nhưng rất ít người để ư rằng Sứ mệnh làm NGÔN SỨ có nghĩa là nói lên điều mà hẳn Thiên Chúa sẽ nói giữa ḷng đời, trước những bất công, những tội lỗi, những áp bức dưới mọi h́nh thức, làm ngôn sứ là lên tiếng hay hành động thế nào để cho tiếng nói của Thiên Chúa vang đến tai những người gây ra những xúc phạm với phẩm gia, nhân cách và mạng sống con người? Nhiều người cho rằng ḿnh đă là một vương đế khi làm một số công tác phục vụ trong phạm vi nhà thờ hoặc đóng góp vào một quỹ xây nhà thờ hay ra tay bố thí, giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật, kém may mắn …theo lời kêu gọi của cha xứ, của các đấng bậc... và làm như thế đă là hoàn tất chức vụ vương đế của ḿnh. Nhưng rất ít người ư thức rằng sứ mệnh VƯƠNG ĐẾ trong môi trường ḿnh đang sống, từ trong gia đ́nh ra đến xă hội, không biết bao nhiêu người cần chúng ta phục vụ để t́m được b́nh an thể chất cũng như tinh thần. Và điều này cần phải nhạy cảm để nh́n thấy và phải sẵn sàng có sáng kiến để đáp ứng trong mọi t́nh huống. Xét như thế, ta thấy rằng đa số giáo dân Việt Nam chúng ta chưa thực hiện đúng mức chức tư tế, ngôn sứ và vương đế “theo cách thức của họ”. Điều họ làm cho đến nay, chủ yếu là thực hiện các chức vị ấy theo “cách thức của các giáo sĩ”. Họ không muốn tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, mà chỉ hài ḷng được tham dự vào các chức ấy của linh mục, như đọc sách thánh trong thánh lễ, góp phần dạy giáo lư ngày Chúa Nhật hay điều hành một hội đoàn... Và qua những công việc đó, họ hưởng được chút uy quyền mà đối với nhiều người cho là hào quang tuyệt đỉnh của uy quyền. Kính thưa quư anh chị Ngày 26-11-2000, trước 40.000 người đến dự lễ Năm Thánh về Tông Đồ Giáo Dân tại quảng trường Thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban huấn từ: Giờ giáo dân đă điểm. Làm một Kitô hữu, chưa bao giờ là một việc dễ dàng, ngày xưa cũng vậy mà ngày nay cũng vậy. Muốn theo Chúa Kitô cần phải can đảm chọn lựa dứt khoát, thường thường là phải lội ngược ḍng! Cách đây 25 năm, Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nêu cao lời giáo huấn: “Sống Phúc âm giữa ḷng dân tộc”. Người sống giữa ḷng dân tộc, dĩ nhiên, là giáo dân Việt Nam. Nếu đến giờ này, Phúc Âm chưa đến trong ḷng dân tộc, nghĩa là chưa đến ḷng từng người Việt Nam không công giáo, th́ điều đó nói lên rằng giáo dân Việt Nam chưa đáp ứng lời kêu gọi của Công Đồng để sống ơn gọi và sứ mệnh của ḿnh: “Người giáo dân sống giữa trần gian, giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đ́nh và ngoài xă hội, tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ” (Lumen Gentium số 4) Thân ái kính chào quư anh chị. (Đại hội Ultreya đầu năm 2/ 2008)
|