CÂU CHUYỆN VỀ HAI NGƯỜI TỬ TỘI

 TRƯỚC GIỜ BỊ HÀNH QUYẾT

 

NGUYỄN VĂN ĐÀN

 

Vào một buổi chiều năm 1949, tại Palma, Đảo Mallorca, Tây Ban Nha, vị linh mục tuyên úy nhà tù gọi điện thoại khẩn cấp tới một giáo dân, yêu cầu người giáo dân này giúp t́m hai người tình nguyện vào nhà tù giúp vị linh mục một việc khó khăn mà chính bản thân vị linh mục đã tìm mọi cách nhưng bất thành.

Trong tù có hai thanh niên sẽ bị  lănh án tử hình vào ngày hôm sau, nhưng hai anh này dứt khoát từ chối gặp gỡ vị tuyên úy. Linh mục tuyên úy chưa chịu bỏ cuộc. Ngài nghĩ tới vai trò của giáo dân, may ra họ có thể thuyết phục hai anh tử tội tuyệt vọng này.

Linh mục tuyên úy gọi điện thoại cho một giáo dân mà ngài tin có thể giúp một tay. Anh giáo dân này lúng túng vì cảm thấy rất ngại khi phải đặt chân vào nhà tù. Nhưng sau khi cầu nguyện, anh gọi một người bạn và xin người này cùng với anh đáp lại tiếng gọi của linh mục tuyên úy. Họ chấp nhận đương đầu với khó khăn, sẵn lòng làm theo ý vị linh mục.

Anh Bonnín, một trong hai giáo dân tình nguyện vào nhà tù, đã xin phép cai tù cho mình và người bạn cùng đi được thay thế lính canh tù vào chơi với hai người tù bị án tử hình. Lời yêu cầu được chấp thuận. Hai người giáo dân bắt đầu nói chuyện phiếm với hai anh tù và lắng tai nghe họ kể lể mọi chuyện về họ. Dần dần, hai anh giáo dân chinh phục được cảm tình và sự tín nhiệm của hai anh phạm nhân. Cuối cùng Bonnín nói với họ: “Chúng tôi đến đây để xin hai anh một ân huệ.” Hai anh tù cười vang lên một tràng cười dài. “Một ân huệ à? Các anh không biết là sáng mai chúng tôi sẽ phải chết sao?” Họ đưa tay lên cổ ra dấu là sẽ bị chặt đầu! Anh Bonnín nói

"Nhưng dù sao, vẫn có điều chúng tôi cần các anh giúp," "Chúng tôi chỉ xin hai anh trình bày với Chúa vài điều cho chúng tôi thôi. Bởi vì chỉ có hai anh mà chúng tôi gặp đây là biết trước chắc chắn mình sẽ gặp Chúa, mặt giáp mặt. Cả Đức Giáo Hoàng, cả các bậc vua chúa, cả người giàu lẫn người nghèo, không ai biết trước mình sẽ đối diện với Chúa lúc nào. Còn hai anh thì biết rõ. Chúng tôi muốn tỏ bày với Chúa đôi điều qua hai anh. Cấp bách lắm. Chúng tôi đang tiến hành một chương trình tuyệt diệu mà chúng tôi mong sẽ đạt kết quả tốt. Nhưng cho đến giờ này chúng tôi đã hoàn toàn thất bại. Chúng tôi muốn nhờ hai anh thưa với Chúa giúp đỡ chúng tôi.” Thấy hai anh tù có vẻ chú ý lắng nghe, Bonnín giải thích hết những niềm hy vọng và nỗi ưu tư của hai người cho hai chàng trai mang án tử.

Khi đêm dần tàn, Bonnín lại nói về Chúa Kitô, về tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Anh thuật lại chuyện người trộm lành đã khôn ngoan như thế nào để  “đoạt” được Nước Trời. Tất nhiên, Bonnín nhấn mạnh nhiều về ơn tha thứ. Thế là sáng sớm hôm sau, vị linh mục tuyên úy đã vào được khu biệt giam, ngồi tòa giải tội cho hai phạm nhân và cử hành Thánh Lễ riêng ngay trong khu tù biệt giam ấy. Hai tù nhân cùng với Bonnín và bạn anh dự Lễ và rước Mình Thánh Chúa thật sốt sắng.

Một trong hai bạn tù đã viết thư về gia đình ngay sau đó. Thư viết bằng tiếng Tây Ban Nha, tạm dịch như sau:

Cha mẹ và gia đình rất yêu dấu của lòng con,

Những dòng con viết đây là những chữ viết cuối cùng mà gia đình nhận được từ một đứa con và một người anh em. Con viết những dòng này bằng trái tim hơn là bằng ngòi bút. Con đang ở trong trại tù biệt giam chờ  giờ  tử  h́nh  và chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là vĩnh viễn rời bỏ cuộc sống này.

Sau một đời tội lỗi, nay Thiên Chúa ban cho con ân sủng đặc biệt nhận ra tội lỗi quá khứ của mình và giao hòa với Chúa. Chúa đã ban cho con cơ hội này để con thật lòng xưng thú tội lỗi nơi tòa cáo giải, là nơi đã từ từ mở ra cho con cánh cửa Nước Trời.

Điều còn lại duy nhất cho con bây giờ là xin lỗi gia đình về tất cả những phiền hà con đã gây ra suốt thời gian qua vì sự lạc lối của con. Nhân đây, tôi cũng khẩn nài các anh em của tôi mà tôi hết lòng thương yêu đừng ai lạc lối như tôi, đừng ai đi lệch con đường bổn phận mà cha mẹ chúng ta đã dạy dỗ chúng ta phải theo. Chưa bao giờ như lúc này con nhớ đến tình thương cha mẹ đã dành cho con. Đời con tới đây là hết. Ngợi khen Thiên Chúa đã ban cho con những giây phút còn lại để cứu chuộc con và cho con được chết như một người có đức tin.

Vào giờ phút cuối cùng của con trên cõi trần gian này, con không thể không nghĩ tưởng đến cha mẹ và gia đình. Vĩnh biệt.

Khi được mời dùng điểm tâm với hai người tử tội, Bonnín bùi ngùi xúc động quá không ăn được. Sau đó, các tử tội bị đưa đi hành quyết. Một trong hai người ấy đã lớn tiếng kêu Bonnín đến gần bên mình.  Bonnín kể lại rằng, người tử tội đã với tay nắm chặt ảnh chuộc tội m à  Bonnin đeo trên cổ khi anh quỳ gối cầu nguyện cho 2 người tử tội vào giờ phút sau cùng , giữa lúc người lý hình đẩy cái đầu của tử tội vào lỗ máy chém rồi kéo sợi xích siết cổ anh.

Chúng ta dám quyết chắc rằng, Chúa Giêsu đã nói với hai người tử tội như đã nói với người kẻ trộm cùng chịu đóng đinh với Chúa: “Hôm nay các anh sẽ cùng tôi vào Nước Thiên Đàng.”

Bonnín và người bạn lấy làm mãn nguyện vì được Chúa ban vào tay mình chương trình mà Bonnín đã từng dự tính bấy lâu nhưng đã thất bại. Chương trình này hôm nay có thể sẵn sàng tung ra khắp bốn phương trời. Đó là Cursillos de Cristiandad", tức “Hội Học Kitô Giáo” hay là Phong Trào Cursillo.

Điều đáng ghi nhận cuối cùng là mãi đến giờ, Bonnín hãy còn mang chiếc ảnh chuộc tội mà người tử tội đã nắm chặt một cách âu yếm trước khi bị hành quyết. Kỷ vật quý báu nhất đời của Eduardo Bonnin !

Đọc  lại câu chuyện của Ong Bonnin vị sáng lập phong trào Cursillo để nhớ đến ông khi ông cũng vừa  hoàn tất ngày thứ tư . Tôi cảm nghiệm được một điều, chính là vai tṛ của người giáo dân mà ông Bonnin đă làm trong thời sinh tiền góp phần vào việc khai mở một phương pháp Cursillo là con đường để nhiều người nhờ đó mà t́m được đường huớng phục vụ mang lợi ích cho chính ḿnh và cho nhiều người khác trong thời đại của chúng ta, thời đại mà người giáo dân lănh nhận nhiệm vụ thực thi  công việc tông đồ của Giáo Hội và cũng để xác định về Sứ mạng người giáo dân, ngoài những  bổn phận phải chu toàn của người con cái Chúa c̣n phải dấn thân vào các môi trường đời để đem tin mừng đến cho mọi nguời bằng đời sống của một chứng nhân.  

 (Chia sẻ nhân buổi cầu nguyện cho ông Bonnin vừa mới qua đời 2/2008)