TÂM TÌNH SAI ĐI

Bartholomew Văn Đức Thạch

Anh chị em thân mến,
 

Hôm nay, buổi họp Ultreya cuối năm, tôi xin đại diện Khối Hậu chia sẻ một số cảm nghiệm về chủ đề: tâm tình được sai đi.
 

Nói đến ra đi, ai cũng hồi hộp. Tuy nhiên, đi đâu thì đi nhưng phải có mục đích. Đi không mục đích như thuyền trôi không lái, không biết mai nầy sẽ về đâu, không cảm nhận ý nghĩa và giá trị rõ rệt của cuộc hành trình. Như một người bắn cung nhưng bắn không có mục tiêu. Chắc chắn anh ta sẽ trúng một cái gì đó, nhưng hỏi cái đó là cái gì thì anh không biết. Bắn xong mới biết thì quá trễ và rất nguy hiểm cho mình và cho những người chung quanh.
 

Đi là di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác. Đi là thay đổi, bỏ cái cũ và đến cái mới. Đi là mạo hiểm vì ta bỏ nơi ta biết, nơi an toàn sinh sống bấy lâu nay mà tìm đến một nơi mà không chắc là có đúng ý muốn hay không.
 

Có những chuyến đi không ngày về. Có những chuyến đi rất đơn độc. Có người không muốn đi nhưng bị cưỡng bách đi, ví dụ như đi kinh tế mới, đi tù cải tạo, bỏ quê hương đi tìm tự do v.v.
 

Có người hăng hái ra đi vì lý tưởng. Có người vì yêu quê hương, vì đáp lại tiếng gọi sông núi mà dám dứt tình nhi nữ, bỏ cha mẹ anh chị em để lên đường.
 

Bây giờ tôi cũng xin nói đến một lời mời ra đi rất đặc biệt. Lời mời nầy gửi đến tất cả chúng ta. Xin chúng ta giúp nhau suy niệm xem chúng ta đang đáp trả lời mời nầy ở múc độ nào.
 

Lời mời ra đi
 

Tôi xin kể lại một câu chuyện, chuyện nầy có thật và đã được ghi lại trong chương 10 của Phúc Âm Thánh Gioan. Chuyện kể rằng, sau khi Chúa chết và đã phục sinh như Ngài đã hứa trước đó, các môn đệ, ngọai trừ Giuđa đã chết và Thánh Thomas không biết lúc đó đang lưu lạc phương nào, tụ họp trong một ngôi nhà. Tiếng là tụ họp cho oai nhưng thật ra là trốn vì đang bị người Do Thái truy lùng. Chúa Giêsu hiện ra giữa các ông, và Chúa làm 5 điều, những điều có ảnh hưởng sâu đậm đến cách sống và mục đích sống của những người mà giáo hội sơ khai gọi là Christian hoặc là Kitô hữu theo tiếng Việt của chúng ta.
 

Ngài làm 5 chuyện sau đây:
 

1. Chúa chúc bình an. Ngài nói, Bình an của Thầy ở cùng các con. Đây món quà tặng đầu tiên và cũng là món quà chân tình nhất của người Thầy, người bạn, mới trở về sau khi chinh phục Sự Chết.
 

2. Điều thứ 2: Chúa cho các ông xem các thương tích. Chúa chứng minh cho các môn đệ một điều quan trọng nhất của cuộc nhập thế của Ngài: Ta đã chết và đã sống lại. Ta đã chiến thắng Sự Chết. Chiến thắng nầy là phần thưởng sau cùng cho những ai tin Ta. Đọc đến đọan nầy tôi rất thích thú vì sự tế nhị của Chúa. Tại sao mới gặp mặt mà Ngài lại "khoe" các viết thương với các ông. Tôi nghĩ rằng các ông, tuy mắc cở và không dám nói thẳng thừng như Thánh Tôma, nhưng cũng mang cố tật là không thấy thì không phải là không tin nhưng là... chưa tin. Biết trình độ của học trò mình nên Chúa đã tế nhị và tránh làm các ông phải bẽ bàng bằng cách tự động dẫn chứng bằng ví dụ cụ thể dễ hiểu là cho thấy các vết thương. Ngài muốn nói, "Thầy đây, bằng xương bằng thịt đây chứ không ma cỏ gì cả. Thầy đã sống lại từ cõi chết, hãy tin chớ đừng nghi nghờ gì nửa." Thánh Gioan ghi lại phần nầy cũng rất ý nhị. Ngài ghi lại rằng, Rồi các môn đệ vui mừng khi thấy Chúa. [Then the disciples were glad when they saw the Lord.] Vui mừng ngay lúc Chúa mới hiện ra hay vui mừng chỉ sau khi Chúa cho xem các thương tích? Thứ tự của các diễn biến nầy đáng cho chúng ta suy nghĩ.
 

3. Hành động thứ 3 là Chúa chúc bình an thêm một lần nữa. Điều nầy hơi khó hiểu. Tại sao trong một khoảnh khắc mà Chúa lại chúc bình an tới 2 lần?
Tuy là một câu nói: Bình an của Thầy ở cùng các con nhưng mang hai ý nghĩa, tùy theo thời điểm. Theo tôi thì câu đầu là lời CHÚC nhưng câu sau là lời MỪNG. Nhưng hãy để ý rằng giữa hai câu nầy có một chuyện quan trọng xảy ra: Chúa chứng minh sự phục sinh bằng cách cho các ông coi các viết thương. Câu Chúc đầu là mong bình an của mình sẽ đến và ở cùng các con. Mong thì không chắc chắn. Câu sau, Chúa Mừng vì thấy các con đã thật sự vui mừng vì tin Chúa đã Phục Sinh, Chúa đã Chiến Thắng Sự Chết. Mừng vì thấy các con đã thật sự nhận được sự bình an của mình.
 

4. Hành động thứ tư nghiêm trọng hơn: Chúa giải thích nguyên do rồi trao sứ vụ lệnh sai đi. Ngài nói Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.
 

5. Nói xong Ngài thổi hơi vào các ông và bảo, Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ. Ngài trang bị cho các ông Chúa Thánh Thần và uy quyền của người được sai đi.
 

Ba năm sống với các môn đệ là 3 năm Chúa dùng để mời gọi, giáo dục, huấn luyện và chuẩn bị hành trang cho các ông. Món hành trang quan trọng nhất, sức mạnh tuyệt đối trong cuộc đời hành đạo là sức mạnh của Chúa Thánh Linh. Ngày Chúa Phục Sinh cũng là ngày các ông chuẩn bị ra trường, ngày Chúa sai các ông ra đi rao giảng tin mừng sau ba năm chuẩn bị.
 

Chúa Giêsu trước khi hành đạo cũng đã được chuẩn bị. Ba mươi năm sống thầm lặng tại Nazarét cũng là 30 năm chuẩn bị. Ba mươi năm sau, tại sông Jordan, Ngài được ban Chúa Thánh Thần và được chúc phúc bởi Đức Chúa Cha. Đức Chúa Cha xát nhận công tác và uy quyền mà Ngài đã trao phó cho Chúa Giêsu, Nầy con là con yêu dấu của Ta. Hãy nghe lời Người.
 

Trước khi đi, phải chuẩn bị
 

Những gì xảy ra với các thánh tông đồ gần 2000 năm trước cũng đang xảy ra với tất cả chúng ta, những người đã được chọn, được huấn luyện và được sai đi. Đi để loan tin mừng rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương đã sai con một của Ngài đến để chết cho chúng ta. Nhưng Ngài đã chiến thắng Sự Chết, và Ngài muốn tất cả chúng ta hãy đến cùng Ngài để cùng vinh hưởng sự sống mới vĩnh cửu ấy.
 

Ra đi luôn được trang bị. Không ai đi đánh giặc tùy hứng bao giờ. Không phải chúng ta được chọn lúc đi dự khóa Ba Ngày. Cũng không phải được sai đi lúc mãn khóa, khi Cha Linh Hướng nói Chúa Giêsu tin tưởng nơi con, và cũng là khi chúng ta sốt mến trả lời, Và con cậy trông vào ơn Thánh Chúa.
 

Chúng ta đã được chọn và cùng một lúc được sai đi kể từ ngày chúng ta nhận phép rửa tội, ngày mà chúng ta chính thức đóng dấu ấn là con của Thiên Chúa với trọn vẹn quyền năng và trách nhiệm của một người con. Quyền lợi không thay đổi, nhưng trách nhiệm tuy cũng không thay đổi những biến dạng theo thời điểm của cuộc sống. Càng trưởng thành, trách nhiệm càng được xác định cho từng người, tùy theo hoàn cảnh và khả năng.
 

Chúng ta mỗi người một hoàn cảnh và điều kiện khác nhau cho nên sẽ có những cách đáp lại lời mời khác nhau. Tuy nhiên mục đích cuối cùng cũng vẫn là một: mang yêu thương và tin mừng cứu độ đến với tất cả mọi người. Mời các anh chị hãy cùng tôi nghiệm xem chúng ta đã đón nhận mệnh lệnh ra đi trong tâm tình nào và hiện nay chúng ta đã đi đến đâu.
 

Cùng một lời mời ra đi nhưng tâm trạng lúc nhận lời có thể rất khác nhau.Chúng ta hãy xét một số tâm trạng điển hình.
 

Tâm trạng thứ nhất: Bị sai đi
 

Bị là không muốn. Bị là miễn cưỡng, là bị ép buộc. Bị cưỡng bách quân dịch thì chiến đấu uể oải, dễ đào ngủ. Đi kinh tế mới, đi tù cải tạo thì bị cưỡng bách, bí lối mới đi chứ lòng thì bất mãn. Có khi nào chúng ta cảm thấy là chúng ta đang BỊ sai đi rao giảng Tin Mừng không? Nghe sao mâu thuẫn quá? Tôi đi rao giảng Tin Mừng cứu độ mà sao mặt mũi tôi sao trông buồn thảm quá. Ai mà tin được rằng tin tôi đang vui trong lòng và muốn đem tin vui với họ? Tôi nói đến sự sống vĩnh cửu mai sau mà cuộc sống của tôi ủ dột, bi quan, yếm thế quá thì ai mà tin tôi.
 

Tâm trạng thứ hai: Ra đi nhưng ngại ngùng, thiếu tự tin
 

Tâm trạng ngại ngùng chúng ta thường gặp. Thương Chúa thì có, nhưng tôi không tự tin là mình có đóng góp được gì cho Ngài. Nghĩ đến câu Chúa nói Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ là tôi lạnh người. Người ta chưa bắt lỗi tôi là tôi cám ơn lắm rồi. Phần tôi thì tôi lấy tư cách gì mà tha ai với buộc ai. Tôi thường nghĩ rằng câu nầy là Chúa nói với các thánh tông đồ ngày xưa hoặc các linh mục ngày nay thôi chứ đâu phải nói với tôi.
 

Cách suy nghĩ nầy cho thấy triệu chứng tôi chưa lớn mạnh đủ, Chúa Thánh Linh chưa được lớn mạnh trong tôi. Tôi quên rằng chuyện tha ai hoặc giữ ai tuy nói qua miệng con người nhưng phải được thúc đẩy và linh ứng bởi Chúa Thánh Linh thì mới có giá trị. Có Chúa Thánh Linh ta làm được tất cả. Thiếu Ngài thì mọi chuyện chỉ là con số không. Ngài thật quan trọng cho nên Chúa Giêsu trước hết thổi hơi vào các ông mà nói Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Rồi sau đó

Ngài mới trao quyền: Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.
 

Tha thứ cho nhau nhiều lúc rất khó nhưng ai ai cũng có khả năng thực hiện được nếu biết cậy trông vào sức mạnh của Chúa Thánh Linh. Tha là chuyện của mình, tha xong mình nhận được sự bình an mà Chúa hằng chúc lành. Còn chuyện người được mình tha tội có hết tội hay không là chuyện của người đó đối với Chúa. Nhưng ta có thể tích cực đóng góp vào chuyện cầu bầu Chúa tha thứ cho họ bằng cách ta tha thứ cho họ trước đã. Tha thứ cho kẻ khác là mở một cánh cửa rất lớn cho việc hoàn lương của họ. Không tha thứ là một cách bít lối về của họ.
 

Xin Chúa Thánh Linh ở lại và lớn mạnh luôn mãi trong mọi người chúng con. Lớn mạnh để chúng con mạnh dạn tha thứ, và nhờ đó mọi người, trong đó có cả chúng con nữa, cũng được Chúa thứ tha.
 

Tâm trạng thứ ba: Hân hoan khi được sai đi
 

Được là ngược với Bị. Được là tiếng thường đi kèm với những trạng thái lạc quan như thích chí, sung sướng, hãnh diện, hân hoan và hạnh phúc v.v. Ở phần trên, tôi có nói đến quyền lợi và trách nhiệm của người làm con của Thiên Chúa. Hai vế quyền lợi và trách nhiệm phải đi đôi. Tuy nhiên, được hưởng quyền lợi làm con của Ngài thì ai cũng muốn, nhưng chu toàn nhiệm vụ của người làm con thì có lúc ta gọi là được, nhưng cũng lắm lúc ta nghĩ là bị. Thái độ tiêu cực nầy mâu thuẫn và không công bằng, vì không ai càm ràm khiếu nại lúc được hưởng quyền lợi cả. Và cũng hiếm thấy ai phàn nàn là Chúa cho họ qua nhiều ân huệ. Không nhận lời mời ra đi, hoặc chưa sẵn sàng đủ để nhận lời, thì thôi. Nhưng đừng đi hai hàng.
 

Đối với những người chân thành đáp lại lời mời ra đi, thì họ đi trong hân hoan vì họ được sống lý tưởng của họ. Không sai, họ cũng đi, vì họ ý thức vai trò và trách nhiệm làm con của họ. Họ thương Cha họ. Họ thương luôn những hoài bão của Cha. Cho dù khả năng hạn hẹp, họ vẫn mong muốn đóng góp một cái gì đó để giúp Cha vui. Và họ ra đi. Họ đi, đi mãi, đi không biết mỏi mệt vì họ biết công việc của Cha họ chưa hoàn tất. Họ đồng hành với Cha, và Cha đồng hành với họ. Cha con họ sống hiệp nhất.
 

Nguy hiểm trên đường đi
 

Có người ở một chỗ nhưng đi rất xa. Có người bôn ba suốt đời nhưng vẫn nằm một chỗ vì không vượt qua những nguy hiểm trên đường đi.
 

Nguy hiểm từ bên trong
 

Theo Chúa là mạo hiểm, và Chúa đã cảnh cáo chúng ta những nguy hiểm sẽ phải gặp lúc đi giúp Ngài mang tin vui đến với mọi người. Nguy hiểm không những vì hoàn cảnh bên ngoài mà còn vì ta, tự ta mang lại cho mình. Trong chương 10 của Phúc Âm Thánh Mathêô, khi sai các thánh tông ra đi Ngài răn đe các ông rằng:
 

- Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng.
- Đi đường, đừng mang bao bị.
- Đừng mặc hai áo.
- Đừng đi giày hay cầm gậy.
 

Nghe xong 4 chữ ĐỪNG tôi thấy oải quá. Làm việc cho Chúa sao mà quá trơ trụi vô sản quá vậy? Tất cả những thứ nầy là nhu cầu căn bản của cuộc sống mà Ngài cấm tuốt không chừa một món thì ai mà theo Ngài cho noi. Vừa phải thôi chứ, khắt khe quá mất vui.
 

Nhưng khi nghiệm lại thì những nhu cầu nhìn có vẻ không ra gì, những thỏa mãn tầm thương nhỏ bé trông thật vô thưởng vô phạt ấy, nếu không cảnh giác, chúng sẽ ngày ngày âm ỉ tích tụ. Và sẽ đến một lúc nào đó, thứ cỏ lùng tự sáng chế nấy sẽ làm ta lệch lạc lý tưởng và quên mất nhiệm vụ lúc nào không hay. Chúa căn dặn chúng ta 4 chữ Đừng trên cũng không ngoài mục đích giúp chúng ta cảnh giác một kẻ nội thù rất nguy hiểm: chính con người yếu đuối của chúng ta.
 

Người xưa có câu Trường thương thì dễ tránh, nhưng ám tiễn thì khó phòng. Mà ám tiễn nầy còn được phóng từ trong phóng ra thì nguy hiểm quá. Tốt nhất là diệt tận gốc. Nếu không chúng sẽ biến ta thành những chiến sĩ nửa mùa, những chiến sĩ part-time, những người làm cách mạng cuối tuần. Anh chị em thì xung phong đi trước, có người đang xất bất xang bang chữa nhà đang cháy mà mình thì cứ đủng đỉnh đi sau, băn khoăn không hiểu tuần nầy giá vàng và đô la lên xuống tới đâu.
 

Những bao, những bị cứ được tích lũy mãi và ngày càng căng cứng trên lưng người chiến sĩ. Rồi sẽ đến một ngày gánh quá nặng, lết đi không nổi, chiến sĩ bỏ cuộc, bỏ bạn bỏ Thầy. Anh ta đã đi rất xa, nhưng cuối cùng anh vẫn nằm một chỗ.
Quí anh chị mến. Nói vậy thôi chứ đừng nản chí. Chúa tính trước tất cả. Vì sau khi phán 4 chữ ĐỪNG mà chúng ta vừa suy niệm, Ngài tiếp theo đó bằng một câu nghe rất phấn khởi, Vì thợ thì đáng được nuôi ăn. Ngài rất công bằng và luôn tín trung. Chúng ta là môn đệ của Ngài. Chúng ta hãy vui mừng và phấn khởi theo Ngài lên đường vì lời hứa ấy. Đừng no, có Nhà Nước no.
 

Nguy hiểm từ bên ngoài
 

Bỏ cái tôi đi theo lý tưởng Kitô chỉ mới lướt qua một nửa gian nguy, chỉ mới khắc phục kẻ nội thù, những cản trở bên trong. Cản trở bên ngoài cũng nguy hiểm không kém. Cũng cùng ở chương 10 của Phúc Âm Thánh Mathêô, Chúa bảo, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và hiền như bồ câu.
 

Câu đầu là một lời báo động báo một chuyện không phải là có thể nhưng là sẽ xảy ra. Những hiểm nguy mà các môn đệ ngày xưa, và chúng ta ngày nay, sẽ phải đương đầu khi thi hành sứ mệnh ra đi. Câu sau, Vậy anh em phải khôn như rắn và hiền như bồ câu là một phương pháp Chúa mách nước cho chúng ta khi đụng trận. Câu nầy làm tôi lúng túng.
Nếu tôi khôn như rắn nhưng không hiền như bồ câu thì không đủ.Và nếu tôi hiền như bồ câu nhưng không khôn như rắn thì cũng không xong. Biết làm sao đây? Khả năng tôi chỉ đến chừng đó thôi thì biết phải giải quyết ra sao đây? Không lẽ cứ ngô ghê làm đồ nhậu cho chó sói cách lãng xẹt? Nhưng nghiệm lại, tôi sực nhớ đến món bảo bối mà Chúa tặng lúc sai đi: sức mạnh của Chúa Thánh Linh. À bây giờ tôi không ngán chó sói nửa. Chúa Thánh Linh sẽ là tâm và trí của tôi nếu tôi biết nhờ Ngài hướng dẩn và giúp sức mạnh. Không có Chúa Thánh tôi chỉ là con cừu ngây ngô thiếu khả năng tự vệ trước đàn sói. Có Chúa Thánh Linh ở cùng, tôi không còn là tôi nữa. Ngài sẽ dẫn đường chỉ lối cho tôi. Chỉ lối không phải là kiếm đường khác an toàn hơn hoặc rút lui để tránh né đàn sói, nhưng chỉ đường để đối diện với đàn sói với mục đích sau cùng là cảm hóa chúng.
 

Khó khăn thật, mạo hiểm thật, căng thẳng thật. Sơ hở một chút là bị xé xác ngay. Nhưng mục đích cũng cao đẹp thay. Vì cùng một mục đích và tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần mà đã có biết bao người đã đáp gọi lời mời ra đi. Bất chấp hiểm nguy và thua thiệt họ đã đi, đi mãi để chuyển một lá thư tình mà Chúa muốn gửi đến tất cả, kể cả cừu lẫn sói. Có người đi xa, có kẻ ở nhà. Nhưng họ là những kẻ đưa lá thư tình: Tình Chúa dành cho nhân lọai. Đồng thời họ cũng là những kẻ diễn đạt cách trung thật nhất nội dung của lá thư. Cuộc sống của họ là kho tàng vô giá để cho chúng ta noi theo.
 

Những kẻ đi xa
 

Sau thánh Phaolô thì phải nói rằng thánh Phanxicô Xaviê có công lớn nhất trong công cuộc truyền giáo. Cuộc đời ra đi truyền giáo của Ngài khởi đầu cũng rất hi hữu. Trước đó, ngài là một thanh niên tài hoa và rất thành công. Công danh và sự nghiệp đang rộng tay mời gọi Ngài. Một trong người bạn thân của Ngài là Ignatius of Loyola (vị thánh sáng lập dòng Tên), một hôm vì băn khoăn trước cuộc sống rất vật chất của bạn, Ignatius nói khích Phanxicô Xaviê rằng, Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích gì. Phanxicô Xaviê chấn động tâm tư và suy nghĩ mãi câu nói nầy. Sau đó, với ơn Chúa Thánh Linh, Phanxicô Xaviê đến gặp bạn Ignatius và nói một câu để đời, Hãy cho tôi một cuốn Thánh Kinh và tôi sẽ ra đi để đem các linh hồn về cho Chúa. Từ đó bắt đầu một chuyến đi, đi mãi không ngừng, đi từ Âu sang Á của một nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội, chỉ đứng sau thánh Phaolô.
 

Những kẻ ở nhà nhưng đi thật xa
 

Ngược lại với trường hợp Thánh Phanxicô Xaviê, Thánh Nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu không đi đâu xa cả. Chị có một lòng mến Chúa rất sâu sắc cách đặc biệt. Tuy ở trong bốn bức tường của dòng tu, nhưng chị luôn tha thiết đồng hành trong lời cầu nguyện cho các nhà truyền giáo xa xăm. Chị mất sớm, lúc chỉ mới hai mươi mấy tuổi. Lòng sốt mến và tinh thần hiệp nhất với những kẻ đi rao giảng tin mừng là một gương rực sáng cho chúng ta. Giáo Hội phong chị là Thánh bổn mạng của các nhà truyền giáo.
 

Những kẻ đi không tính ngày về, những anh hùng vô danh
 

Giáo hội chúng ta cũng mang ơn nhiều nhà truyền giáo ít ai biết đến. Vì lòng mến Chúa khát khao, họ xin Bề Trên cho họ đi đem Tin Mừng đến những nơi rừng thiêng nước độc không ai dám đến. Họ rao giảng và sống Tin Mừng tại đó. Họ chết trong âm thầm, trong bệnh họan, trong thiếu thốn. Nhưng họ rất bình an vì họ đã chiến đấu trung thành đến giây phút cuối cùng. Họ là những vệ sĩ danh dự của Đức Kitô.
 

Nước Việt Nam của chúng ta cũng có những cuộc ra đi rất hào hùng. Họ loan báo Tin Mừng ở những nơi mà không ai dám lui tới: tại pháp trường. Họ lấy cái chết của họ để chứng minh cái Sống vĩnh cửu của Đức Kitô.
 

Chúa Nhật tuần vừa qua, cộng đòan Công Giáo Canberra về Penrose Park để dâng lễ kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trời mưa tầm tả từ tối hôm trước và còn kéo dài đến sáng hôm sau. Trên đường về Penrose Park, trời rất âm u, mưa gió bất chợt. Đến nơi mọi người phân vân không biết là có dâng lễ được không vì mây và mưa cứ kéo đến hăm dọa.
 

Đến 2 giờ chiều, lúc bắt đầu đi Đàng Thánh Giá, thì trời... nắng. Đến giờ dâng lễ, Cha con quyết định xung phong, go ahead! đến đâu thì đến, mưa đến thì... tính sau. Đúng là liều mạng. Nhưng trời cũng không mưa. Sau Thánh lễ, chụp hình lưu niệm thu xếp ra về thì... trời mưa. Lạ lùng quá. Những trường hợp nầy đâu phải là lần đầu. Chuyện xảy ra nhiều lần rồi, nhất là khoảng thời gian gần 10 năm trước đây lúc cộng đoàn đi xây đền các Ngài. Tôi nghi là trong vụ nầy có sự can thiệp và cầu bầu của Các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam.
 

Các Ngài đã ra đi nhưng vẫn luôn ở mãi và chăm sóc con cháu. Xin các Thánh dạy chúng con lòng mến sắt son của các Ngài để chúng con cùng học tinh thần ra đi hăng hái làm chứng nhân tình yêu.
 

Kết
 

Thưa quí anh chị, chúng ta vừa cùng nhau suy nghĩ về những điểm:
 

- lời mời ra đi,
- thái độ có thể gặp phải lúc nghe lời mời,
- những nguy hiểm sẽ gặp lúc ra đi,
- cách lướt thắng những nguy hiểm, và
- những gương sáng của những người đi trước chúng ta.
 

Ai ai cũng có khả năng đáp lại lời mời, không riêng gì các thánh tông đồ hoặc các linh mục hoặc các tu sĩ. Giáo hội của chúng ta tri ân những người khát khao ra đi chia sẻ tin vui với mọi người. Chúng ta, những người bạn của Thầy Chí Thánh Giêsu, phải có trách nhiệm trong công tác nầy.
 

Chưa đi thì hãy đứng dậy lên đường, không có gì là quá trễ.
Đang đi thì hãy xin tiếp tục đi, đi cách hân hoan can đảm và ngày càng vững mạnh hơn trong quyền lực, sức mạnh, ủi an và soi sáng của Chúa Thánh Thần.
 

Đi vào ngay các nơi mình đang sống, sinh họat, làm việc, vui chơi, giao tế.
 

Ước mong Bình An Của Chúa Giêsu và sức mạnh của Chúa Thánh Linh luôn ở mãi trong chúng ta suốt chuyến đi nầy.
 

Bartholomew Văn Đức Thạch
 

11/2008