XIN CHO CON ĐƯỢC SINH RA

Tom

Cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ đă hoàn tất sau biết bao ngày tháng chuẩn bị, vận động sôi nổi. Trước đây người ta vẫn thường nghĩ Hoa Kỳ c̣n phải trải qua một con đường dài nữa mới vượt qua được khoảng cách về chủng tộc, nhưng nay Thượng Nghị Sĩ Barack Obama, một người Mỹ da đen gốc Phi Châu đă chính thức trở thành Tổng Thống tân cử của Hoa Kỳ.
 

Các vị lănh đạo các quốc gia hoan hỉ chúc mừng với viễn ảnh “và cả thế giới vào một tiến vào một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên mà chủng tộc, mầu da và thiểu số... cũng sẽ không c̣n nữa như là một yếu tố về chính trị trên khắp thế giới".
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng chúc mừng và coi đây như là "thời điểm lịch sử". Tuy nhiên, các ngài cũng mong thấy tân chính phủ "hết ḷng tôn trọng và dấn thân phục vụ cái linh thánh và phẩm giá của tất cả mọi sự sống con người và hỗ trợ thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta".
 

Thực vậy, ai cũng biết TNS Barack Obama là người ủng hộ cho "Freedom of Choice Act", Quyền Tự Do của Đạo Luật Lựa Chọn, có nghĩa là ủng hộ cho việc phá thai, một việc làm đi ngược với giáo huấn của Giáo Hội.
Cá nhân tôi cũng mừng khi thấy con người vẫn cố gắng hoàn thiện dần sự b́nh đẳng: tôn giáo, giới tính, chủng tộc mầu da. Nhưng cũng thật đau ḷng khi thấy sự bất công, hay đúng hơn là tội ác đối với những thai nhi vô tội. Những thai nhi đă bị giết chết v́ sự ích kỷ và vô trách nhiệm của người lớn, dù họ đă dùng những mỹ từ để bào chữa cho hành động tàn ác này.
 

Tôi không có con số thống kê số lượng các thai nhi bị giết chết mỗi năm trên thế giới, nhưng tôi tin là phải nhiều lắm.
Riêng tại Việt Nam, theo thông tin mới đây được đưa ra tại Hội nghị triển khai Dự án Giáo dục sức khoẻ sinh sản và pḥng chống HIV/AIDS cho học sinh trung học, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần một triệu rưỡi ca nạo phá thai, trong đó có tới 20% trường hợp là học sinh Trung Học Phổ Thông. Đây là con số được thống kê, nhưng chắc chắn con số thực sự c̣n cao hơn nhiều. Đúng là một mây mù u ám cho tương lai khi nền văn minh sự chết được cổ vơ và yểm trợ. Tôi cũng nghe nói chính quyền Cộng Sản mới ra quy định thêm về việc hạn chế sanh đẻ dưới chiêu bài “kế hoạch hóa gia đ́nh”.
 

Tôi đă được xem nhiều h́nh ảnh thảm thương của các thai nhi bị giết và lấy ra khỏi cung ḷng người mẹ, nhất là các thai nhi đă lớn. Tôi không hiểu tạo sao mà con người có thể đối xử với nhau như thế. Tôi không hiểu sao những “ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh” mà lại có thể chối bỏ máu thịt của ḿnh như vậy.
 

Tôi mới chỉ có dịp thăm viếng những nghĩa trang b́nh thường, nơi có ít những nấm mộ của các thai nhi nạn nhân, mà niềm cảm xúc đă dâng trào. Tôi vẫn mong có cơ hội để đến viếng những nghĩa trang được dành riêng cho các em như ở ngoài Huế, Pleiku; mỗi nơi đó có cả hơn chục ngàn nấm mộ tí hon do những người thiện tâm đi gom nhặt và chôn cất. Nơi đó có những lời thơ nói thay tâm sự u buồn của các cháu gởi cho bố mẹ: "Con không có lời ru - Đưa con vào cuộc đời - Để con được làm người - Xin thắp lên cho con một ngọn nến, một nén nhang"; rồi thống thiết van xin: "Nơi mộ vắng nghĩa địa buồn - Xin hăy thương con, đừng bỏ con - Con tội t́nh ǵ? Mẹ ơi, Cha ơi!"... Và sẵn sàng: "Con ra đời, dù không hoan hỉ - Bỏ con nơi bố thí, viện tế bần - Dù cùng cực sống khốn khổ bần dân - Con muốn sống muôn ngàn lần hơn chết!" Tôi được nghe câu chuyện vào ngày Trung Thu năm 2004, người ta mang tới cha Đông ở Pleiku một bọc ni lông khá lớn, mở ra th́ thấy một bào thai, cháu bé đă đầy đủ h́nh hài. Cha nhẹ nhàng dùng tay đỡ em ra đặt trên một tờ báo. Thật bất ngờ, hài nhi đưa tay bấu chặt lấy ngón tay của cha, động tác đầu tiên và cuối cùng của em trên cơi đời này. Cái bấu tay biểu hiệu cho sự kêu cứu, một sự kêu cứu thay cho biết bao nhiêu những bạn đồng cảnh ngộ.
 

Đau buồn thật khi người có lại hủy đi, trong lúc biết bao người mong mỏi lại không có. Trong đợt “trốn lạnh” vừa qua, có dịp ghé ḍng Biển Đức tại Thủ Đức tôi mới chứng kiến được số lượng đông đảo các bà hiếm muộn ao ước có được một mụn con. Chỉ nghe nói ở đây có cha khấn ư nguyện này rất thiêng, họ không ngại đường xá xa xôi và vượt qua mọi khó khăn từ khắp mọi nẻo đường đất nước kéo về đây để thành khẩn xin cha khấn cho. Tôi cùng hợp ư để cầu xin cho họ được toại nguyện. Tôi cầu xin cho người lớn ư thức trách nhiệm, để không c̣n những bào thai “ngoài ư muốn” nữa, mà những bào thai này sẽ là những bào thai “vui mừng và hy vọng” nơi các cặp vợ chồng đang sống đúng với giá trị nhân bản con người, tôn trọng t́nh yêu hôn nhân.
 

Giờ đây tôi chú tâm cầu nguyện cho ước muốn của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, không những chỉ xin cho tân chính phủ Hoa Kỳ, mà cho mọi người "hết ḷng tôn trọng và dấn thân phục vụ cái linh thánh và phẩm giá của tất cả mọi sự sống con người và hỗ trợ thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta" được thể hiện. Cũng cầu nguyện để mọi người chấp nhận vai tṛ của Thiên Chúa trong việc lưu truyền sự sống, ư thức được con người chỉ là kẻ thừa hưởng công tŕnh sáng tạo, chứ không phải là sở hữu chủ, và con người không thể sử dụng công tŕnh sáng tạo theo ư riêng ḿnh, tách rời khỏi nguồn gốc và tương lai của nó...
Trong lúc buồn v́ cao trào phá thai, tôi lại phấn khởi với sự ra đời của những nhóm “Bảo vệ Sự Sống” ở nhiều nơi và dưới nhiều h́nh thức.
 

Hơn hai năm trước tôi được nghe nói đến anh Phúc ngoài Nha Trang, người mà tôi coi như một thánh sống. Anh quả là một anh hùng bảo vệ sự sống, đại ân nhân của các thai nhi vô tội. Tôi được kể anh chỉ là người thợ xây cất, nhà không khá giả ǵ. Trong lần đưa vợ đi sanh tại bệnh viện, anh biết có cô gái đi phá thai; v́ phải lo cho vợ sanh, anh không kịp khuyên cản và việc này làm anh áy náy măi. Sau đó anh có quyết định dấn thân vào việc cứu vớt các thai nhi.
Lân la đến các điểm phá thai, anh khuyên nhủ các bà mẹ tương lai. Anh hứa bao bọc cho cả mẹ lẫn con cho tới khi “mẹ tṛn con vuông”. Lúc đầu anh không được sự yểm trợ của gia đ́nh, nhưng dần dà mọi người hiểu công việc anh làm và hỗ trợ tối đa. Tới nay anh đă cứu được hơn bốn chục em bị chết oan uổng. Tôi cùng với mấy chị đă được trực tiếp nh́n thấy thành quả của anh.
 

Chúng tôi đến Nha Trang để thăm anh và những đứa “con tinh thần” của anh. Rất tiếc hôm đó anh đi làm không có ở nhà, nhưng hơn mười em bé đang nằm ngủ hay ḅ chơi nơi pḥng khách chật hẹp. Nơi này c̣n có bà mẹ đă sanh được mấy tháng c̣n ở lại chăm sóc con và phụ giúp coi những cháu khác. Trong nhà cũng có hai bà mẹ mới sanh ở pḥng trong và một bà mẹ đang chờ ngày măn nhụy khai hoa. Nhiều quá chứa không xuể, anh phải nhờ gia đ́nh bố vợ chăm sóc tiếp hơn mười cháu nữa ở căn nhà gần đó.
Đặc biệt anh được sự tiếp tay của cha Đại ḍng Ngôi Lời (Thánh Giuse) Nha Trang. Trong chương tŕnh bác ái của nhà ḍng, cha đă phụ tiếp anh trong việc nuôi dưỡng và chăm sóc cho các cháu. Với niềm tin tưởng và phó thác nơi thánh Giuse, cha đă xây dựng được căn nhà tại Cam Phước, Cam Ranh. Ơ nơi này có mười tám “con tinh thần” lớn nhất của anh, từ hơn một tuổi đến gần ba tuổi đang được bốn chị chăm sóc.
 

Khi chúng tôi mới tới, các cháu c̣n lạ lẫm tránh né, nhưng chỉ sau mấy phút là các cháu quen ngay và xà đến đ̣i chúng tôi ẵm bế. Thấy các cháu ao ước t́nh thương, tôi thầm nghĩ không biết bố mẹ các cháu đang ở đâu và có khi nào nhớ đến các em hay không. Sau khi t́m hiểu, thực tế thật phũ phàng khi được các chị cho biết hầu như chẳng có bà mẹ nào trở lại thăm các cháu. Tội cho các cháu quá, có cha có mẹ mà phải sống đời mồ côi, kiếm t́m t́nh thương và sự âu yếm nơi mọi người.
 

Nói chuyện với cha Đại, tôi được biết c̣n rất nhiều những khó khăn trước mắt, không những về vật chất nuôi dưỡng các cháu, về các thủ tục luật pháp với chính quyền, mà quan trọng hơn là việc giáo dục các cháu. Đây là công việc hết sức phức tạp và khó khăn hơn nuôi dậy các cháu mồ côi nhiều. Tôi mới coi qua bộ phim tập “Mùi Ng̣ Gai” và cảm nhận được cụ thể hơn sự khó khăn này. Nhân vật chính của bộ phim, cô Vy, khi biết ḿnh bị người cha có dă tâm không cho ḿnh góp mặt với đời, và sau này lại không can đảm gánh nhận cô dù mẹ cô chết lúc sanh cô. Cô không chỉ mang mặc cảm không có cha mẹ nuôi nấng chăm sóc, mà c̣n mang nỗi thù hận người cha ngút trời đến nỗi t́m cách trả thù... Tôi nghĩ các cháu rất dễ bị khủng hoảng. Sự trống vắng t́nh gia đ́nh và long thù hận này chỉ có thể
 

Sự hiểu biết tốt nhất về vấn đề sinh sản của con người bởi bác sĩ Ogino (Nhật) và Knauss (Áo) ở đầu thế kỷ 20, rồi sự ra đời của thuốc ngừa thai vào đầu những năm 50 của thế kỷ 20 đă làm sôi sục dư luận của các đôi vợ chồng và các nhà luân lư.
 

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI Thông điệp Humanae vitae được ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1968.
 

Giáo huấn của thông điệp khá đơn giản. Hai luận chứng nuôi dưỡng giáo huấn về tính bất hợp pháp của những phương pháp ngừa thai nhân tạo nhằm mục đích điều hoà sinh sản là: tôn trọng luật tự nhiên như nó được khám phá trong lănh vực sinh học của người nữ và người nam; không được tách rời việc phối hợp giới tính và sự sinh sản.
 

Chúng ta hăy đọc số 11 đến 14, là điểm trọng tâm của thông điệp.
 

Chúng ta thử tóm tắt những tiêu chuẩn giáo thuyết:
 

- Hôn nhân giả định khả năng dâng hiến cho nhau hoàn toàn và trọn vẹn (số 8).
- T́nh phụ tử có trách nhiệm được đề cao (số 10)
- Con người lệ thuộc luật tự nhiên (số 11)
- Sinh học là một chỉ dẫn cho luân lư: người ta không thể tách rời việc phối hợp với sự sinh sản (số 12)
- Một nhân học theo đó con người được hiểu là có khả năng làm chủ chính ḿnh (số 21)
 

Cuối cùng là những nguy hại mà Huấn quyền nêu rơ:
 

- Hạ cấp luân lư tính, bất trung, mất sự kính trọng người nữ nếu họ trở nên một dụng cụ vui thú ích kỷ (số 17)
- Con người có nguy cơ khước từ trách nhiệm của ḿnh (số 18).
 

Tom