THÁNG GIÊNG NGĂ NGỰA

 

James Phùng Ngọc Thanh

(Bài viết này xin gởi đến quư anh chị Tân Cursillista hai khóa 35 và 36.
cũng như một lời tri ân đến Đ.Ô Nguyễn Minh-Tâm, Cha Nguyễn Đức Thụ, cha Trần Quang Ṭng, Sister Trần Thị Niên, anh chị Tâm & Yến, anh chị Vỹ & Liên, quư anh chị trong PT Cursillo Adelaide đă cầu nguyện nâng đỡ; và nhất la Thu, người bạn đời của tôi & con gái Mai Chinh, đă hết ḷng yểm trợ tôi trong việc học và mọi công việc, để tôi có thể dấn thân trong công tác tông đồ)
 

- Anh Thanh ơi, kỳ này tôi giới thiệu anh đi tham dự khóa Cursillo nhé!
 

- Khóa mở ở đâu vậy cha?
 

- Ở Sydney vào đầu năm tới.
 

- Vâng, cũng được, con sẽ đi tham dự.
 

Sau đó, hai cha con c̣n trao đổi với nhau thêm vài việc có liên hệ đến khóa học.
 

Đó là mẫu đối thoại giữa tôi và cha Nguyễn Đức Thụ, lúc đó vào khoảng giữa năm 1997, sau thời gian vừa mới xảy ra khúc rẽ quan trọng, trong đời tôi cách đó độ hơn 1 tháng. Vào thời gian này, tôi hầu như bế tắc, niềm tin giao đông mạnh, không c̣n thiết tha ǵ đến ḷng nhân từ của Chúa nữa! Mà h́nh như đối với tôi lúc nay, chẳng có Chúa bà ǵ ráo cả?! V́ nếu có Chua, th́ làm sao bao nhiêu năm dài kiên tŕ cầu xin, Ngài cứ nhắm mắt làm ngơ, mặc dù điều tôi cầu xin đâu có ǵ là xa xỉ, là quá đáng. Mà rơ ràng Chúa thiên vị, trước mắt tôi người bất chính th́ được đủ mọi thứ tốt lành dư dật. C̣n tôi giữ lề luật Chúa, ăn ở ngay lành lại chịu bao nỗi đắng cay! Cứ mỗi lần nhớ đến câu trong Phúc Am: hăy gơ cữa sẽ được mở, hăy xin sẽ cho, làm cho tôi thêm bực ḿnh.
 

Tôi cố chiến đấu với chính ḿnh để không mất niềm tin, nhưng rồi cuối cùng lại ngă ḷng, v́ t́m măi chẳng nhận ra được chút nào ḷng nhân từ thương xót của Chúa cả!?. Chỉ thấy đau thương cứ dồn dập xảy đến làm tôi tuyệt vọng! Sau cùng chịu hết nổi, tôi nhen nhúm ư định tự kết liễu ḿnh, v́ chỉ có cách này mới giải thoát được nỗi khổ mà thôi; và cũng là cách nếu có Chúa th́ sẽ làm cho Ngài đau ḷng, v́ chính Ngài đă quá khắt khe với con cái ḿnh. Lúc đó tôi mới hiểu tại sao người ta tự tử!
 

Một con người khi muốn tự chấm dứt cuộc sống ḿnh, đối với họ trên cơi đời này không c̣n ǵ để lưu luyến nữa! Thời gian này, trong đầu tôi cứ quanh quẩn ư nghĩ t́m cách chết! Mặc dầu vậy, toi vẫn trông cậy vào Đức Mẹ, ḷng sùng kính có được là nhờ mẹ tôi đă hun đúc từ lúc c̣n nhỏ, khi lớn lên vào quân ngũ, trải bao lần sống chết. Rồi sau năm 1975, từ “thượng vàng, hạ cám” cái ǵ nhà nước cộng sản cũng cấm, nên người dân đành phải đi buôn lậu để kiếm sống qua ngày. Thời gian này tôi dẫn đầu một số người đi buôn lậu thuốc rê (1), băng rừng vượt suối, lẫn tránh những trạm canh gác và cướp bóc, trải qua nhiều nguy hiểm, niềm tin của tôi ở Đức Mẹ càng lớn lên, nên gặp lúc tận cùng mọi thứ đều quên hết, chỉ c̣n biết chạy đến cùng Mẹ.
Cho đến một buổi trưa, khi đứng trước bàn thờ Đức Mẹ để cầu nguyện, bỗng nhiên một cảm giác mạnh mẽ xâm chiếm tâm hồn, tôi như vừa bưng tỉnh qua một cơn mê, như có bức màn che chắn giờ được mở toang ra. Lạ lùng lắm!.. không có ngôn từ nào để có thể diễn tả được, rồi từ đó tôi thay đổi hoàn toàn một cách kỳ lạ! Nếu như không có biến cố này, chắc là tôi đă từ chối lời mời gọi của cha Thụ, v́ có nhiều lư do như: khóa học xa quá ở tận Sydney hay công việc làm ăn rất bận rộn, cùng lắm tôi sẽ thoái thác hẹn lần, hoặc để chờ khi Adelaide mở khóa sẽ tham dự.

Thế rồi, vào tháng giêng ngày 17 năm 1998, tôi bắt đầu nhập học khóa 13 Cursillo, tại Chevalier College, Bowral, New South Wales. Nhờ được ơn cảm hóa của Đức Mẹ, khi vào khóa học tôi nhận ra ḷng nhân từ và t́nh thương của Chúa, nên sau khóa học, cảm giác của tôi đối với anh chị Cursillistas như những người thân yêu, những người mà ḿnh có thể chia sẻ, có thể tâm t́nh mà không sợ ngại ngùng. Tôi cảm nghiệm được Mẹ Maria đă dẫn đưa tôi đến với Chúa Giêsu con Mẹ. Ôi t́nh Chúa thật ngọt ngào, êm ai! Nhất là đôi mắt của Chúa nh́n tôi tŕu mến như muốn nói điều ǵ, tôi thầm hứa dâng hết cuộc đời và làm những ǵ Chúa muốn, nên sau khi măn khóa về, tôi hăng say tham gia vào công việc của phong trào.
 

Tạ ơn Chúa vào năm sau, Thu, người bạn đời của tôi cũng gia nhập vào đại gia đ́nh Cursillo, qua khóa 16 tại Adelaide. Nhờ vao sự thông cảm và hỗ trợ, cũng như dấn thân của Thu, nên tôi đă kiên tŕ tham gia trong các công tác của phong trào không mệt mỏi. Hai năm sau, năm 2000 chúng tôi quyết định nghỉ hưu, v́ sức khỏe bị ảnh hưởng bởi các vết thương ngày xưa trong chiến tranh, hơn nữa giờ đây các con chúng tôi đă trưởng thành. Nhờ vậy, tôi bỏ hầu hết thời gian miệt mài vơi các công việc của phong trào, tôi cho đi tất cả những ǵ ḿnh có không so đo tính toán.
 

11 năm trôi qua, có rất nhiều kỷ niệm vui, buồn, thành công, thất bại. Tất cả là những bài học quư giá, không thể dùng tiền bạc để mua, nhưng cái giá phải trả: chính là bản thân và thời gian công sức của ḿnh mới có được, bù vào đó tôi thấy cuộc sống của ḿnh càng có ư nghĩa hơn. Nhất là trong những lúc buồn phiền, khi mà hầu như không c̣n chịu đựng được nữa, gần như buông xuôi tất cả, vào những lúc này, tôi cảm nhận được rơ ràng có bàn tay của Chúa đang d́u dắt, nâng đỡ.
 

Nhưng cuộc đời của tôi không chỉ dừng lại ở đó, Chúa lại dẫn đưa vào khúc rẽ khác. Vào tháng 4 năm 2003, một tai nạn thảm khốc, cướp đi sinh mệnh của hai nữ sinh vừa 17 tuổi đời, trong hoàn cảnh đau thương này, tôi được nhờ giúp tất cả mọi việc hậu sự cho hai em; và kể từ đó tôi bắt đầu dấn thân vào lanh vực này, ban đầu ít, rồi cứ từ từ, càng ngày càng lún sâu thêm. Cho đến một hôm, khoảng hơn 9 giờ đêm, một cú điện thoại của một người không quen biết, từ Melbourne gọi đến. Chị nhờ giúp đỡ phần hon và lo an táng cho chị Ph., đang mang căn bệnh ung thư hiểm nghèo, bác sĩ cho biết chỉ c̣n sống hơn 1 tuần lễ!
 

Chị Ph. đưa đứa con trai 10 tuổi từ Melbourne về Adelaide, để gởi gắm cho người em chăm sóc (2); và cũng muốn chọn Adelaide làm nơi dưng chân cuối cùng trước khi chị ra đi. Tôi nhận lời ngay không chút do dư; và hỏi thêm vài chi tiết để hôm sau đến gặp chị. Bỏ điện thoại xuống, tôi bồi hồi cảm xúc đến chảy nước mắt. Tạ ơn Chúa, v́ Người đă không chê tôi tội lỗi bất xứng, lại gởi đến một công việc quan trọng, là giúp cho một linh hồn sắp sửa ra đi, trong khi đó c̣n có rất nhiều người tài giỏi, thánh thiện hơn tôi.
 

Sáng hôm hôm sau, tôi đến nơi ở dành cho những người sắp sửa từ giă cuộc đời! Nơi đây có những người thiện nguyện, săn sóc an ủi bệnh nhân, tôi gặp chị Ph. ở đó. Chúng tôi tṛ chuyện với nhau, chị Ph. kể cho tôi nghe về căn bệnh, về lư do tại sao về đây v.v... và chị c̣n cho biết: hơn 24 năm làm tín đồ ngoan đạo của Giáo Hội Tin Lành, nhưng nhờ gương sáng của chị Thủy (3) đă cảm hóa chị trở lại đạo Công Giáo, sau đó được cha Vơ Thanh Xuân rửa tội cách đây hơn một năm. Rồi từ đó về sau, tôi giúp chị những ǵ cần thiết về phần hồn và chuẩn bị mọi việc cho chị, sau khi chị qua đời.
 

Mỗi lần đến thăm, tôi ở lại với chị khoảng hơn 2-3 tiếng đồng hồ. Chị thật vui khi gặp tôi, như cần có người để trút hết tất cả những ǵ c̣n lại trong ḷng; và cũng để vơi bớt nỗi cô đơn, khi phải nằm chờ đến giờ ra đi! Chị tâm sự cho tôi nghe những ước mơ, những khó khăn mà chị đă thực hiện được trong đời. Những thất bại, những lầm lỡ, những hy sinh, những đau khổ, hối tiếc và hạnh phúc v.v... mỗi khi nhắc đến đôi mắt của chị sáng lên, và có lúc h́nh như đôi mắt ấy, lại như ch́m đắm trong nỗi buồn vời vợi! Chị nh́n vào khoảng không, như nhớ về nơi xa xăm nào đó, nơi mà những ǵ trong cuộc đời chị đă trải qua!... Tôi biết cái chết có khi không đáng sợ, nhưng sợ nhất là sự đe dọa của nó, khi mà ḿnh nằm chờ đợi thần chết đến! Điều làm tôi cảm phục, là chị có một đức tin thật vững vàng, chị chấp nhận đối diện với cái chết và phó thác mọi sự trong bàn tay của Chúa.
Tiếng chuông điện thoại reo vang, đầu dây bên kia tiếng cô Y tá người Úc cho biết chị Ph. đang trong cơn nguy kịch, tôi cảm ơn va hứa sẽ đến ngay. Bỏ điện thoại xuống nh́n đồng hồ thấy đă 11 trưa, tôi lái xe đi ngay lên bệnh viện.
 

Lúc này chị khi tỉnh khi mê, nét mặt chị vui lên khi nh́n thấy tôi đến thăm. Tôi ngồi kế bên giường, an ủi nâng đỡ chị khi tỉnh và cầu nguyện khi chị đi vào cơn mê, cũng như xin mọi người hiện diện, hợp một ḷng cùng kêu xin ḷng nhân từ Chúa và Đức Mẹ, đoái thương chị trong giờ hấp hối này. Tôi ở lại với chị gần 5 tiếng đồng hồ, đúng 4.15 phút chiều ngày 17-10-2006, chị Ph. trút hơi thở cuối cùng ra đi b́nh an. Hai mắt chị nhắm lại, gương mặt thanh thản đầy đặn, sáng láng như đang say ngủ, hai tay chị ôm tràng hạt Mân Côi vào ḷng.
 

Tôi đoc lời nguyện kết thúc và làm dấu Thanh Giá trên trán chị, sau đó phát kinh cho những người thân của chị mà tôi đă in sẵn để cùng đọc, mặc dù họ là những người chưa hề biết Chúa. Nhờ tinh thần phó thác vào Chúa, chị đă đă sống hơn 2 tuan lễ, thay v́ hơn 1 tuần như lời bác sĩ đă báo trước.
 

Người Chaplain (Tuyên Úy) Công Giáo của bệnh viện, đến từ lúc nào không biết, sau khi tôi làm mọi việc lần cuối cùng xong, bà mơi tôi ra ngoài nói chuyện và cho biết đă chứng kiến những việc tôi làm từ khi chị Ph. c̣n tỉnh, cho đến lúc chị trút hơi thở cuối cung, bà rất hài ḷng và mong muốn tôi cộng tác với bà làm việc trong bệnh viện. Sở dĩ tôi hơi dài ḍng qua câu chuyện trên, v́ qua lần giúp chị Ph., đă đưa đến một khúc rẽ quan trọng. Một khúc rẽ mà tôi phải tranh đấu với bản thân, để làm một quyết định cho cuộc đời ḿnh sau này.

Để được chính thức đi thăm bệnh nhân trong bệnh viện, tôi phải tham dự một khóa ngắn hạn dành cho những người đi thăm bệnh (Hospital visitor). Mới đầu hơi lúng túng, v́ không chỉ những bệnh nhân Á Châu hay người Việt, mà c̣n cả người Úc nữa. Tạ ơn Chúa, nhờ sự giúp đỡ tận tâm của người Tuyên Úy, nên qua một thời gian ngắn, tôi cảm thấy tự tin đến với bệnh nhân dù là người Úc. Có khi gặp những bệnh nhân người Úc khó tính bỏ đạo đă lâu năm, tỏ ra khó chịu khi thấy ḿnh xưng là người Công Giáo đến thăm, họ không muốn tiếp chuyện, lại có khi c̣n xua đuổi ḿnh nữa là khác. Tôi gặp trường hợp này mấy lần, dần dần nghiệm ra: họ tưởng ḿnh đến nói về Chúa, nên không thích nghe.
 

Lần khác đen, tôi nói ngay cho họ biet: đến thăm với tính cách thân hữu mà thôi (Friendly visit), khi nghe vậy gương mặt họ dịu lại, có khi lại mỉm cười thân thiện. Tạ ơn Chúa giúp tôi khôn ra, nói đủ thứ chuyện và từ từ lái họ theo chiều hướng của ḿnh muốn, rồi dần dần chính họ lại nói ve đạo, nói về Chúa. Nhờ vậy tôi khám phá ra, chính những người xua đuổi ḿnh không muốn nghe, nếu biết cách họ là những người dễ thuyết phục, hơn là những người nửa nạc nửa mỡ. Làm tôi liên tưởng đến lời Chúa nói: nóng th́ nóng nguội th́ nguội, dở ương ương Chúa mửa ra.
 

Vừa làm ở bệnh viện, lại c̣n giúp các trường hợp cận tử trong cộng đồng; và những người Công Giáo ngoài cộng đồng. Nhiều

lúc bệnh viện gọi vào lúc 1- 2 giờ sáng, tôi ra đi đưa tiễn một người nào đó, rồi trở về ngủ lại sau 3-4 giờ đồng hồ ở với bệnh nhân. Nhờ vậy, nên biết được nhiều nghịch cảnh éo le, ḷng tôi lại càng thấy thương cho họ nhiều hơn nữa, v́ trong lúc này họ bối rối, lo sợ cái chết gần ke, nhất là những người mà lâu nay không c̣n sinh hoạt trong giáo hội nữa! Kể cả người thân của bệnh nhân, cũng bối rối không biết làm ǵ chỉ c̣n có khóc than!
 

Có những lần chứng kiến cảnh “phó linh hồn” theo kieu VN của người đi giúp kẻ liệt, chính người sống như toi, khi nghe cũng c̣n cảm thấy rờn rợn bất an, huống chi là người đang hấp hối và người nhà. Thật ra lúc này, chính là lúc người hấp hối cần được an ủi, hỗ trợ và mọi người cùng cầu xin ḷng nhân từ của Chúa và Mẹ Maria đoái thương họ, chứ không phải là lúc liên tục “kêu gào” tên cực trọng của Chúa thật to, v́ lư do sợ người hấp hối không nghe; hay có khi người giúp kẻ liệt, c̣n lấy giấy quấn kèn đút vào tai người bệnh để kêu tên Chúa!?
 

Tôi suy nghĩ và tự tranh đấu với bản thân, với công việc hiện tại ở bệnh viện; và giúp cộng đồng cũng đủ mệt, không cần bỏ thêm thời giờ vào việc khác nữa. Nhưng neu muốn giúp tha nhân hiệu quả hơn, tôi cần phải học hỏi, khi nghi đến “học” là cả một vấn đề khó khăn. Việc này tôi chia sẻ với anh Nguyễn Hữu Tâm (Brisbane) v́ biết anh trước kia có học ve ngành Tuyên Úy bệnh viện. Nghe anh Tâm giải thích về việc học, tôi rất thích và nghĩ đây là cái mà tôi cần học hỏi, để có thể giúp người khác, sau đó có xin ư của Đức ông Nguyễn Minh-Tâm, tôi tŕnh bày những cái khó khăn như: trở ngại về Anh Ngư và hiểu biết v.v... Đức ông khuyến khích và hứa sẽ giúp đỡ, sau cùng nửa đùa nửa thật nói: anh cứ tưởng tượng như ḿnh tập cỡi xe đạp, dĩ nhiên lúc đầu không biết cỡi, trèo lên sẽ té, té thét rồi sẽ cỡi được. Học cũng vậy, mới đầu khó sau thời gian ḿnh quen sẽ dễ dàng hơn.
 

Tuy được người nhà và Đức ông cũng như cha Ṭng yểm trợ, tôi vẫn chưa dám quyết định, v́ việc học này có thể dễ dàng với người khác, nhưng với tôi quả là một việc khó khăn. Khó khăn v́ lớn tuổi trí nhớ mau quên, lại không phải là ngôn ngữ của ḿnh, mặc dù tôi cũng biết chút ít tiếng Anh, rồi chương tŕnh học toàn những cái mới lạ; và nếu thành công, cuộc đời tôi sẽ đi về một hướng khác với công việc nhiều khó khăn hơn.
 

Tôi cầu nguyện, xin Chúa soi sáng nếu như Người muốn con dấn thân, xin hăy giúp con thêm can đảm và mở ḷng trí con, chứ với sức riêng con, chắc chắn sẽ không thể nào lam được. Tôi cầu nguyện, nhưng khi nghĩ đến việc học th́ lại sợ, nên cứ chần chờ không quyết định. Nhưng thật lạ lùng, tôi cố chần chừ muốn rút lui bao nhiêu, th́ ngược lại trong ḷng tôi như có cái ǵ thôi thúc, đến nỗi suốt ngày cứ suy nghĩ đến việc học, đang lái xe cũng nghĩ, ăn cơm cũng nghĩ, làm việc ǵ ư nghĩ đó cũng xâm chiếm trong ḷng. Đến nỗi lên giường nằm cũng nghĩ, nghĩ cho đến khi chợp mắt ngủ lúc nào không hay. Riết rồi, tôi cam thấy không chịu nổi nữa, nên xin Đức ông Tâm thư giới thiệu và điền đơn khai lư lịch để nhập học. Cũng may nhơ quá tŕnh sinh hoạt trong phong trào; và có tham dự các khóa học khác, nên mới đáp ứng được những ǵ ma bản khai đ̣i hỏi. Và lạ lùng thay, khi tôi quyết định học, th́ tự nhiên tâm hồn thoải mái, nhẹ nhàng như vừa trút đi một gánh nặng.

Thế là tôi bắt đầu “tập cỡi xe đạp”, mà bài vở khó thiệt, toàn là từ ngữ và những bài học mới lạ như: Ministry Skills and Grief Theory, Ministry Skills and Spirituality, Health Care Ethics and Ministry rồi đến Bible đọc trẹo cả lưỡi, học mờ cả mắt và một mớ sách đọc làm tài liệu trả bài, phần viết th́ c̣n khó hơn, bài tập th́ dài lê thê nào là Verbatim Report, lại c̣n Oral test nữa mới khiếp chứ! May là nhờ có Đức ông Tâm và cha Ṭng, cái nào khó quá không nuốt nổi th́ cầu cứu, nên nhiều bận té nhào xuống xe, rồi lại nhảy lên cỡi tiếp. V́ ḿnh dốt quá nên phải ráng học, ngoài những giơ làm việc thiện nguyện hay việc phong trào, tôi ngồi vào bàn học. Riết rồi Thu (bà xă) thấy ngày nào cũng ngồi trước cái máy Computer, đâm ra hơi nghi nghi, không biết ông này làm ǵ, nhưng không nói ra, lâu lâu đi ngang liếc vào, có lúc lại nói (warning) bâng quơ:
 

- Làm ǵ ngồi suốt ngày, không biết có học không nữa?
 

Nói th́ nói vậy, chứ mọi việc Thu đều yểm trợ lo tất cả để tôi yên tâm học tập, nhờ ơn Chúa tôi đă vượt qua được tất cả các môn học theo chương tŕnh, thế mà cũng mất hết một năm rưỡi!
 

Ngày 20 tháng 11 năm 2008, trong buoi lễ tốt nghiệp ĐGM Joseph Oudeman trao văn bằng Tuyên Úy, nhận văn bằng trong tay, tâm trạng tôi lúc này thật là mâu thuẫn, vừa vui mừng lại vừa lo âu. Vui mừng v́ đă được như ḷng mong ước. C̣n lo âu, v́ không biết có đền đáp xứng đáng với ân huệ Chúa ban cho hay không?
 

Hôm nay nh́n lại những chặng đường thăng trầm, trong cuộc đời gần 60 năm tôi đă trải qua, trong đó có 11 năm sinh hoạt với phong trào Cursillo, và song song với thời gian này, tính đến nay đă có 6 năm trong môi trường giúp bệnh nhân cận tử và gia đ́nh của họ. Giờ đây tuy công việc và trách nhiệm có phần nặng nề hơn trước, nhưng tôi cảm nhận được t́nh Chúa và hồng ân của Người đă ban cho, qua những đau khổ trong cuộc đời.
 

Nếu như ngày xưa tôi không bị thương, chắc là với chiến tranh khốc liệt, khó mà có thể sống sót được đến hôm nay. Nếu như tôi không nằm ở bệnh viện ṛng ră 2 năm trời, v́ những vết thương quá nặng, giờ này chắc khó có thể thích hợp, với không khí trong môi trường bệnh viện, nhất là mùi tử khí của người cận tử. Nếu như không có những đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, mà tôi đă trải qua, th́ làm sao có thể hiểu và đồng cảm với những người đang đau khổ, để họ có thể tin tưởng và nhờ vào sự tin tưởng này, tôi mới có thể giup được họ; và 11 năm làm việc, sinh hoạt trong phong trào Cursillo giúp cho tôi tính chịu đựng, kiên nhẫn để có thể ngồi hàng giờ, chăm chú nghe những niềm vui, nỗi buồn của người khác!
 

Cảm tạ ơn Đức Mẹ, đă dan đưa tôi đến với phong trào Cursillo; và chính trong môi trường này đă hun đúc, đă tôi luyện để tôi có được như ngày hôm nay. Đôi khi tôi nghĩ: nếu như ngày xưa Chúa chỉ để Thánh Phaolô té xuống ngựa; và rồi ông đứng dậy phủi bụi trèo lên lưng ngựa tiếp tục đi. Như vậy, sẽ không bao giờ có một tông đồ dân ngoại kiệt xuất cột trụ cho Giáo Hội. Nhưng chẳng những Chúa để cho ông té ngựa, lại c̣n giáng thêm một đ̣n mù mắt. V́ mù mắt, ong quờ quạng như đi trong đêm tối; và trong sự đau khổ v́ mù ḷa ấy, tay ông không c̣n cầm thanh kiếm nữa mà thay vào chiếc gậy ḍ đường, lúc này ông mới cảm nhận được thân phận thấp hèn của con người, trước quyền năng của Thiên Chúa. Trong đau khổ ông mới b́nh tâm ăn năn và lúc đó Chúa ban ơn cho ông trở lại.
 

Tôi không dám ví ḿnh như Thánh Phaolô, chỉ chia sẻ cảm nghiệm Ngày Thứ Tư, những ǵ đă và đang xảy ra trong đời ḿnh, nhất là sau lần ngă ngựa vào tháng Giêng đầu năm 1998, đă đưa cuộc đời tôi vào khúc rẽ. Nhiều lúc nh́n lại con người của ḿnh, giúp tôi hiểu biết được khả năng ḿnh có được đến đâu, v́ vậy tôi càng xác tín và chắc chắn rằng: tất cả chính là hồng ân Chúa đă ban cho, điều dễ dàng nhất mà tôi có thể làm được là xin vâng và đặt mọi sự vào tay Chúa, riêng tôi chỉ là dụng cụ thấp hèn mà thôi.
 

James Phùng Ngọc Thanh
 

Đầu Tháng Giêng năm 2009
 

(1)- Lá cây thuốc hút xắt nhỏ cho lên phên dẫm nhuyễn mặt thuốc, phơi khô thành từng lá, mỗi lá gọi là “rê” to khoảng: 35X45 cm. Mỗi cây thuốc 25 rê ghép lại thành một bánh nặng từ 10-12kg, giá thành có khi hơn cả một cay vàng thời bấy giờ nam 1978 đến1980. Mỗi lần đi mỗi người đeo vai 2 bánh nặng hơn 20kg.
(2)- Người em và bà con khác tôn giáo.
(3)- Về sau tôi mới biết chị gọi cho tôi từ Melbourne tên là Thủy, từ đó đến nay tôi chưa hề biết và gặp chị lần nào. Có lẽ cha Nguyễn Hữu Quảng chủ nhiệm báo Dân Chúa biết chị.