Mỗi năm cứ tới ngày mồng hai tháng 11 tôi lại có dịp ra ngoài nghĩa trang cùng với Cộng Đồng dâng lễ cầu cho các linh hồn. Bao giờ tôi cũng cố đi sớm, để thăm viếng mồ phần những người thân quen đang yên nghỉ nơi đây, cũng như tưởng nhớ đến những người đang an giấc ngàn thu tại những thành phố buồn khác. Nghĩa trang của Cộng Đồng mỗi năm mỗi tăng thêm nhiều phần mộ mới. Nằm ở nơi đây gồm đủ mọi bậc người. Từ cụ già tuổi thọ ngoài trăm đến những em bé sơ sinh vắn số, và cả những thanh niên nam nữ đang tràn đầy nhựa sống.
Dâng lễ cầu hồn không những chỉ để cầu cho người đã qua đời, mà còn là dịp nhắc nhở cho tôi, giống như tiếng chuông báo tử ở quê nhà ngày xưa, mỗi khi có người trong xứ qua đời. Vừa cầu cho người chết, vừa nhớ cầu cho mình.
Đi thăm phần mộ những người quen để hồi tưởng những kỷ niệm với họ, cũng là tiếng chuông nhắc nhở rồi đây tôi cũng như họ, tôi sẽ nằm nơi mà họ đang yên nghỉ. Nhớ lại lúc gởi họ vào lòng đất, là lúc tôi nhớ lại tâm tình của người Việt bình thản đón nhận sự chết: lá rụng về cội, sinh ký tử quy. Chết là lẽ đương nhiên của cuộc đời: Sinh, bệnh, lão, tử. Chết, thân xác như những chiếc lá khô rụng về đất, hồn như người lữ khách tha phương trở về cội nguồn vĩnh cửu.
Có những tiếng chuông báo tử và cũng có những tiếng chuông dục sống. Tiếng chuông này chuẩn bị cho tiếng chuông kia được hoàn hảo. Có những tiếng chuông sống động ngân nga thánh thót, nhưng cũng có những tiếng chuông âm thầm mà nếu không để ý thì chưa chắc đã nghe thấy được.
Ngay thuở còn nhỏ, đời tôi đã rất gần gũi với tiếng chuông. Đầu tiên là tiếng chuông nhà thờ, ít là ngày ba buổi sáng trưa chiều, vừa là chiếc đồng hồ chung cho người dân quê nghèo khổ, vừa nhắc nhở giáo dân có bổn phận với Chúa. Sau nữa là những tiếng chuông liên tục trong chủng viện. Từ sáng sớm tinh sương thức giấc cho đến tối khuya lên giường ngủ, tôi đều được những tiếng chuông nhắc nhở: giờ nào việc nấy, sẵn sàng và hoàn thành.
Nghe tiếng chuông đầu tiên trong ngày, ai nấy vội bật dậy, quỳ xuống tạ ơn và dâng ngày. Rồi tiếng chuông nhắc nhở đến bên Chúa qua thánh lễ, giờ cầu nguyện nuôi dưỡng phần hồn. Tiếng chuông mời gọi tới nhà cơm bồi bổ phần xác. Tiếng chuông báo hiệu tới phòng học mở mang tâm trí. Tiếng chuông kêu mời ra sân banh chơi cho thỏa chí trẻ thơ... để rồi kết thúc một ngày bằng tiếng chuông khuya mời gọi hát lên: Con dâng linh hồn con trong tay Chúa... và lên giường đắp chăn ngủ khò! Một ngày như mọi ngày, xem ra nhàm chán nhưng lại là những hạt cát, hòn đá tuyệt vời để tạo thành khối xi măng cốt sắt vững chắc làm nền móng cho cuộc đời.
Có thể nói tiếng chuông đã trở thành một phần của đời tôi. Giờ đây mỗi khi nghe tiếng chuông, những kỷ niệm êm đềm thuở ngày xưa còn bé luôn được gợi nhớ lại. Cũng nhờ đó, tiếng chuông này đã giúp tôi mạnh sức trong suốt ba ngày dự khóa mệt phờ hơi tai! Thật vậy, ba ngày khóa ngày xưa mệt quá, chương trình dày đặc, lúc nào cũng trong tư thế ba chân bốn cẳng mà chạy. Ai cũng thù ghét tiếng chuông và lăm le rình dấu cái chuông yêu quý của anh khóa phó Phạm Công Toàn, người hùng từ Mỹ quốc. Riêng tôi lại thương mến nó sao chi lạ! Tiếng chuông, tiếng Thầy gọi. Sẵn sàng, này con đây, con xin đến để làm theo ý Thầy. Thế rồi mỗi lần trợ tá, tôi lại đắm chìm trong tiếng chuông...
Tôi yêu quý tiếng chuông như thế đấy, vì nó đã tập cho tôi những thói quen mà tôi rất hài lòng.
Ai cũng nói người Việt Nam có giờ dây thun. Trễ năm, mười phút hay thậm chí nửa tiếng thì cũng chẳng sao, nào đã chết thằng tây nào! (đó là chưa kể đến giờ đám cưới). Tôi là người Việt Nam chính tông nhưng lại rất khó chịu với những việc như vậy. Chắc chắn đó là kết quả của ông thầy chuông đã dầy công dậy dỗ, uốn nắn: giờ nào việc nấy con thời chớ quên. Tuy có thói quen không đeo đồng hồ, nhưng Chúa thương giúp vẫn trung thành được với lời thầy dạy. Trung thành tới độ đôi khi quá khích gây buồn lòng cho người khác. Cũng may rồi dần dà học thêm được chữ nhẫn, chữ chờ, chứ không thì đã trở thành người bất mãn kinh niên. Tôi vẫn thường tâm niệm: Công việc đã được xác định rõ ràng như thế mà không thực hiện đúng giờ được, thì nói chi đến việc chuẩn bị đón chủ về!
Để giúp tôi giữ giờ cho tốt, tiếng chuông còn giúp tôi biết chuẩn bị. Đó là ảnh hưởng của tiếng chuông nhất chuẩn bị cho chuông hai. Nhờ có chuẩn bị, đời tôi xem ra có vẻ nhàn nhã thư thả, không có gì gấp gáp vội vàng. Chả thế mà bạn bè thân quen cho là số tôi sướng, lai rai, tà tà; chứ đâu biết tôi đã phải cố gắng cải số nhờ tập thói quen chuẩn bị, chuẩn bị sao cho hợp lý và an toàn. Để có được thói quen này, một phần cũng nhờ tinh thần sắp sẵn của phong trào Hướng Đạo tuy tôi không chính thức là thành viên. Dại gì mà cứ để nước đến chân mới nhẩy. Vội vàng quá thế nào cũng lâm vào tình trạng vấp phải đá, quàng phải dây té lăn cù đau điếng, có khi còn ảnh hưởng liên lụy đến người khác!
Như đã nói, tiếng chuông đã trở thành một phần của đời tôi. Nhờ thế, những tiếng chuông này đã giúp tôi lần mò tập nghe những tiếng chuông âm thầm, nhẹ nhàng luôn vang lên trong cuộc đời. Đó là những biến cố của cuộc sống, cả bên ngoài lẫn trong nôi tâm. Nới theo ngôn ngữ Phong Trào, tiếng chuông đã dạy tôi một cách thức Học đạo, như tâm tình cầu nguyện của bài hát Lắng nghe tiếng Chúa - (Nguyễn Duy).
Những tiếng chuông âm thầm giúp tôi nhận ra việc, và biết dừng lại sao cho đúng lúc. Biết dừng lại công việc bề bộn để nghỉ ngơi và nâng hồn lên với Chúa trong lời ngợi khen, tạ ơn. Biết xuống núi trở về với đời sống thực tại để tiếp tục chu toàn trách nhiệm trên vai. Biết nhìn sự kiện để liên tưởng đến công việc sao cho được một công, hai ba chuyện, cố gắng sinh lợi nén bạc một thành hai. Những tiếng chuông âm thầm không những hết sức hữu hiệu trong việc phát triển đời sống tâm linh, mà còn giúp tạo đời sống hạnh phúc nhờ sẵn sàng chấp nhận thực tại.
Điều quý hóa hơn là những tiếng chuông này giúp tôi nhiều trong việc dọn mình. Có chuẩn bị để hoàn thành công việc bình thường, thì không thể không chuẩn bị cho công việc lớn nhất là việc hoàn tất cuộc sống, đó là sự chết. Công việc nào cũng cần phải có thời gian chuẩn bị và thời gian thực hiện. Có việc thời gian chuẩn bị ngắn mà thời gian thực hiện dài. Có việc thời gian chuẩn bị dài để chỉ thực hiện trong chốc lát. Dù ngắn dù dài, mỗi thời gian đều được xác định rõ. Riêng về sự chết thì thật đặc biệt, khổ nỗi không ai xác định được thời điểm, nên thời gian chuẩn bị là cả cuộc đời mà sự chết có thể xảy ra trong nháy mắt. Hiểu được như vậy, nên đích điểm của mọi công việc bây giờ đều phải nhắm đến cái chết. Có vậy thì mới tử quy đúng nơi đúng chốn.
Cuộc sống đang phơi phới như mùa Xuân tươi đẹp mà nói đến sự chết thì có kỳ cục quá chăng? Có phải là bi quan yếm thế và nói gở hay chăng? Thú thực thì tôi thường xuyên nghĩ đến và nói về sự chết từ lâu, nhưng gở ở đâu chưa thấy tới và cuộc sống vẫn lạc quan, miệng vẫn còn cười toét toe loe.
Nói đến sự chết tôi cũng chẳng cho là bi quan yếm thế. Trái lại, đó lại là một phương thế xây dựng đời sống hữu hiệu. Sống là chuẩn bị cho chết. Chuẩn bị cho chết là sống sao cho đời đáng sống. Người Việt Nam là người hữu thần, coi trọng thần thánh, tin tưởng đời sau. Các cụ từ xưa đã dậy: Chết vinh hơn sống nhục, hay trâu chết để da, người chết để tiếng. Để được như vậy, phải sống sao cho tốt, cho có ích lợi cho nhân quần xã hội, cho được lắm người yêu hơn nhiều người ghét. Biết được cuộc đời vắn vỏi, thường giỏi lắm cũng chỉ là ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, mà lại không biết lúc nào, nên lúc nào cũng cần tranh thủ, cần cố gắng. Mỗi lần tham dự một đám tang, nhất là những đám tang quá bất ngờ là những tiếng chuông dục sống, thực hiện ngay đi những việc cần thực hiện...
Tiếng chuông âm vang. Lời Chúa thì thầm... Xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con trong đêm tối...
Tom
Tháng 11, tháng nhớ Mẹ