|
CON KÊNH VÀ NHỮNG CÂY CẦU
Tháng trước tôi có chia sẻ về đời sống thời thơ ấu tại quê
tôi. Có mấy anh chị ở thành phố, chưa từng về quê bao giờ cảm thấy thắc mắc, sao các địa danh vùng đấy lại bắt đầu bằng chữ
"kênh"?
Sở dĩ có tên như vậy là vì ở những chỗ đó, nơi nào cũng có một con kênh đào. Những con kênh này được đào từ cuối ra tới đầu kênh, và ăn thông vào con sông nằm song song với "đường cái", đó là đường liên tỉnh Rạch Giá - Long
Xuyên. Các kênh nằm châu đầu thẳng góc với hai bên của đường lộ. Không những chỉ quê tôi có tên như vậy, mà rất nhiều nơi ở các tỉnh khác cũng có các
"kênh". Sau biến cố 30/4, đi cải tạo ở mãi tận tỉnh Chương Thiện, tôi ở một nơi cũng có tên là kênh 5.
Vùng bốn là đồng bằng rộng mênh mông, cò bay thẳng
cánh. Đất ruộng thấp nên phải đào một con
kênh, lấy đất đắp qua hai bên để làm đường đi. Con kênh này rất cần thiết, không những để tạo thành đường bộ, nó còn là một phương tiện giao thông bằng đường thủy rất tiện lợi nữa, vì hệ thống sông ngòi miền Nam chằng chịt mọi nơi. Nó cung cấp lượng nước cần dùng cho các sinh hoạt miền
quê. Nó cũng là một nguồn cung cấp thức ăn cho dân
quê, những đêm trăng sáng vừa tán gẫu và vừa kéo vó bắt
cá, bắt tôm cũng thú vị ra
phết.
Con kênh có nhiều lợi
ích, nhưng cũng có những bất tiện. Vì được đào ở giữa, nên nó đã tách đôi đơn vị dân cư ra làm
hai, khó bề đi lại liên lạc với nhau. Đúng là
"gần nhà mà xa ngõ". Để thông thương giữa hai bên, người ta bắc những cây cầu. Ngoài cây cầu chính là
"cầu nhà thờ" ở khúc giữa kênh được đúc bằng xi măng kiên cố, còn lại những cây cầu khác thường được làm đơn sơ bằng cây, còn gọi là
"cầu khỉ", những người ở tỉnh thành nhút nhát thì chưa chắc đã dám đi.
Cây cầu có một vị trí quan trọng cho dân
quê, một phương tiện nối liền sự giao thông giữa hai
bên.
Cây cầu nói lên hình ảnh thơ mộng và cũng rất đặc trưng cho cuộc sống nơi miền quê.
Cây cầu cũng là những nguồn kỷ niệm. Bọn trẻ tụi tôi thích những cây cầu này lắm, không những chỉ để qua kênh chơi với bạn bè, mà nó còn là sàn phóng cho chúng tôi tắm
sông, một phương tiện giải trí miễn phí đầy hứng thú. Cây cầu phục vụ đa dạng.
Hồi nhớ lại những cây cầu ở quê xưa trong mùa chay chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh, tôi liên tưởng đến cây cầu thiêng liêng là Đức Giêsu, Thầy Chí
Thánh.
Thầy là cây cầu nối liền giữa đất với với trời, bắc ngang qua con kênh tội nguyên tổ, con kênh của sự bất
tuân. Thầy là cây cầu để "đất với trời se chữ đồng". Thầy là cây cầu cứu độ như hình ảnh con rắn đồng thời Môisen, vì
"khi Thầy bị treo lên khỏi mặt đất, Thầy sẽ kéo mọi người lên
theo" (Jn. 12, 32).
Thầy là Đấng trung gian nối kết giữa Thiên Chúa và loài người, như Thánh Phaolô đã xác quyết:
"Chỉ có một Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, đó là con người Chúa
Kytô, Đấng đã hiến mình làm giá chuộc cho tất cả mọi người" (1 Tim. 2, 5- 6), hay:
"Thiên Chúa đã giải hòa chúng ta với Ngài nơi Đức Kytô" (2 Cor. 5,18). Thánh Phêrô cũng minh xác chân lý
này: "Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì không có một danh hiệu nào khác dưới gầm trời này được ban cho con người, để nhờ đó chúng ta được cứu độ"
(TĐCV 4,12). Là Thiên Chúa xuống thế làm người, và dùng chính cái chết của mình để cứu chuộc. Thầy là vị trung gian tuyệt hảo, nối kết con người với Thiên
Chúa, mang lại cho nhân loại những thiện hảo của ơn cứu độ và sự sống thần
linh.
Cây cầu Giêsu cũng nói lên hình ảnh thơ mộng của tình
yêu. Tình yêu là đặc điểm trong cuộc đời và giáo lý của Thầy:
"Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của những người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu" (Jn. 15,13). Vì yêu thương, Thầy đã xuống thế làm người, mặc lấy thân xác yếu đuối của con người để cảm thông trọn vẹn với con người. Còn hơn tiểu thuyết
"Anh phải sống", vì yêu thương, Thầy đã chết cho cả loài người được sống. Thật vui mừng khi nghĩ đến việc Thầy không giới hạn chỉ giải cứu con người khỏi ngục tù tội lỗi, mà còn thông truyền tình yêu thần linh cho mỗi người nữa. Sau khi làm gương bằng chính cuộc sống của
mình, Thầy đã dậy: "Các con hãy yêu thương
nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Jn. 13, 34). Cái
"như" mà Thầy dậy là mức điểm Thầy muốn môn đệ mình cần đạt đến. Thầy truyền đạt cho loài người quyền năng để yêu thương như Thầy đã thương yêu. Thầy thăng hóa tình yêu của con người, làm cho nó lên tới mức siêu việt của chính Thầy:
"chết cho tình yêu".
Cây cầu Giêsu cũng là món quà nhưng không của Thiên Chúa ban tặng để phục vụ cho con người. Thầy đã xác định sứ vụ cứu chuộc như là một việc phục vu, một việc phục vụ sẽ được bộc lộ trọn vẹn nơi việc Thầy trao hiến mạng sống mình cho nhân loại: "Vì Con Người đến không phải để được phục vụ, mà là để phục vụ và để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mc. 10,45). Là một ngôi vị quyền uy, Thầy hoàn toàn có quyền được hầu hạ. Thế nhưng, Thầy cũng tự đặt mình ở vị thế phục vụ tạo vật của mình. Thầy đã chứng minh sự phục vụ này một cách hùng hồn và thật cảm kích trong bữa tiệc tình thương, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ, một hành động tiêu biểu, sẽ trở thành khuôn mẫu cho cuộc sống văn minh tình thương sau này: "Các con cũng phải rửa chân cho nhau" (Jn. 13, 14). Phục vụ trong yêu thương và khiêm nhường là phương thế hữu hiệu để thi hành lời hiệu triệu: "Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con" (Jn. 20,21).
Sứ mạng ra đi để rao truyền Tin Mừng và làm chứng cho Thầy thật là cao cả nhưng cũng đầy cam go. Với thân phận yếu đuối mỏng dòn của con người làm sao tôi có thể chu toàn được nếu không có Thầy? Vì "không có Thầy, chúng con chẳng làm gì được." (Jn.15,5).
Để chắc ăn nhất, tôi phải sống kết hiệp mật thiết với Thầy. "Thầy là cây nho, chúng con là ngành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Jn.15,5). Như Thầy đã mạc khải việc Ngài được sai đi, và luôn nhấn mạnh điều đó nhiều lần. Thầy muốn dạy tôi một bí quyết giúp tôi sống đạo và chiến đấu với ba thù, đó là phải kết hiệp mật thiết với Thầy, như Thầy đã luôn gắn bó với Đấng đã sai Thầy. Sự kết hiệp mật thiết này sẽ giúp tôi luôn đổi mới, được thông hiệp với sức sống thần linh, để có thể nói như Thánh Phaolô: "Đối với tôi, sống là Đức Kytô" (Phil. 1,21), và "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kytô sống trong tôi" (Rom. 8, 10-11). Thánh Âu Tinh cũng nói: "Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn cả chính tôi thân mật với tôi
nữa"
Sống kết hợp với Chúa Kytô còn giúp tôi vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Tôi còn nhớ hồi bị đi cải tạo, cuộc sống thật vất vả khổ sở, nhất là trong thời gian đầu. Đúng là khổ sở trăm bề, cả tinh thần lẫn thể xác. Có một sự việc mà tôi cứ nhớ mãi.
Vì chẳng quen làm những công việc nặng, nên khi mới nhập trại, tôi thường căn me để được nằm trong nhóm làm ruộng, làm nhà, bứt dây choại,... và cố tránh đi làm rừng. Một hôm vì nhu cầu củi bán tăng vọt, nên khi điểm danh tôi lọt vào nhóm đi rừng. Tôi lo lắm vì theo bạn bè kể trong rừng rất nhiều vắt, nhiều gai và nhất là vì tôi chưa hề gồng gánh gì bao giờ, không biết vai tôi có vác nổi hay không. Vài người bạn trấn an là sẽ hỗ trợ tôi.
Tới địa điểm, một đống cây thật lớn đã có sẵn, chúng tôi được lệnh mỗi người tuần tự vác một cây, gặp cây nào vác cây đó không được lựa chọn, hết chuyến này thì tiếp tục chuyến khác. Tới phiên tôi, thấy đa số là những cây lớn, còn đang chần chừ để vác cây tương đối nhỏ hơn, thì một đầu súng AK dí sau lưng bắt tôi vác một cây to nhất! Đoạn đường về trại thật là đoạn khổ giá. Đường rừng lõm bõm nước đục ngàu đầy gai cây ráng, chật chội vướng vít lại càng làm tăng sức nặng của cây tràm. Ngã lên ngã xuống mà vẫn không đổi cho bạn được, sui xẻo tôi đi ở đoạn có công an vác súng đi theo. Chán chường và tuyệt vọng, tôi lết đi như một xác không hồn. Vào tới chuyến thứ hai tuy may có được cây nhỏ, nhưng khi cho cây lên vai thì như có trăm ngàn mũi kim đâm vào vai đau buốt. Tôi cảm thấy nóng sốt. Vai sưng và trầy trụa.
Đau quá, tôi liên tưởng đến đường Thập tự của Chúa Kytô. Lúc đó tuy không phải lúc tham dự chặng đàng Thánh giá, nhưng tôi có cảm nghiệm thật sâu xa với chặng thứ hai mà Chúa đã chịu khi xưa. Trời ơi, Chúa tôi khổ cực đau đớn quá. Hòa mình vào với Chúa, tôi cảm thấy có sức mạnh hơn, vì khổ đau tôi chịu chẳng thấm với khổ đau của Ngài. Tôi ý thức được Ngài chịu sự khó vì người khác, trong đó có tôi. Còn tôi chịu sự khó này là vì chính tôi.
Ba ngày sau, toán đi rừng vác củi không thay đổi. Đã có Chúa và cùng đồng hành với Ngài, tôi vượt qua được giai đoạn cam go này. Dần dần quen vai hơn, tôi quyết định "chơi luôn", vì nghĩ rằng mình không đi thì người khác cũng phải đi thôi. Cũng nhờ vậy mà sau này điểm danh trúng việc gì cũng được, không cần phải canh me tránh né. Và khi đã về nhà, tôi là chuyên viên gánh lúa, đổi công cho hàng xóm gặt cho, vì tôi gặt chậm chạp quá.
Cuộc sống con người dù chẳng muốn, nhưng ai cũng gặp đầy rẫy những đau khổ. Người ta nói "đời là bể khổ" mà. Trước cái khổ, có lẽ thái độ tích cực nhất vẫn là bình thản chấp nhận và rồi tìm phương thế tốt nhất để đối phó. Nói thì dễ vậy, nhưng trong thực tế, nhiều đau khổ xẩy đến ngoài tầm sức, làm mình phải chới với chơi vơi. Những lúc này chỉ còn cách tháp vào thập giá của Thầy, thì đau khổ nào cũng nên nhẹ nhàng, vì thập giá mình bao giờ cũng nhẹ hơn thập giá Thầy. Hơn nữa, Thầy bao giờ cũng sẵn sàng chia sẻ và tiếp giúp, Thầy thích như vậy. Vai của Thầy trải qua hai ngàn năm đã nên chai cứng.
Như thế Thầy lại là cây cầu nối Thập tự tới Phục sinh, cây cầu vượt sông bi quan thất vọng tới bến bờ hy vọng lạc quan.
Tạ ơn những cây cầu và cũng tạ ơn những con kênh, vì nhờ có con kênh mà mới có những cây
cầu.
Tom
|