|
HIỆP
NHẤT VỚI HÀNG GIÁO PHẨM
Tháng
trước chúng ta đã sống hiệp nhất với
Chúa Kitô qua mầu nhiệm Phục Sinh để thắng
vượt những khó khăn thử thách trong cuộc
đời, cũng như tìm lấy niềm vui và hy
vọng cho cuộc sống. Tháng này cùng hiệp nhất
với hàng Giáo Phẩm, chúng ta đem sức sống
hạnh phúc này cho thế giới dưới như
lời mời gọi của Thầy Chí Thánh: “Cả các
ngươi nữa, hãy vào làm vườn nho cho Ta”(Mt.
20,4).
Thời
trước Công Ðồng Vatican II, vai trò của người
giáo dân rất lu mờ và thụ động. Có thể nói
mọi sự đều ỷ nại và trông chờ vào hàng
Giáo Phẩm, rất sát nghĩa đen với hình ảnh
“một đàn chiên” hiền lành để phó mặc
cho chủ chăn là các linh mục chăn dắt và coi
những bổn phận tông đồ truyền giáo, cũng
như xây dựng Giáo Hội là việc riêng của các
linh mục, tu sĩ.
Công
Ðồng đã mang lại cho Giáo Hội nhiều
luồng gió tươi mát, như một lễ
Hiện Xuống mới với ơn Chúa Thánh Thần tuôn
đổ xuống tràn trề, để đáp lại
những nhu cầu của thế giới. Một trong
những luồng gió ấy là nêu lên vai trò và trách
nhiệm của người giáo dân qua nhiều văn
kiện rất quan trọng: các hiến chế “Ánh Sáng
Muôn Dân”, “Vui Mừng và Hy Vọng”, sắc lệnh
“Truyền giáo” và đặc biệt là sắc lệnh
“Tông Ðồ Giáo Dân”.
Công
Ðồng không chỉ đề cao vai trò, sứ mạng và
ơn gọi giáo dân, mà tích cực hơn, còn đưa
ra một chỉ dẫn để Giáo Hội phải theo,
một định mức Giáo Hội cần đạt
tới. Ðó là: “Giáo Hội chưa được
thiết lập thực sự, chưa sống đầy
đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo
của Chúa Kitô giữa loài người nếu như chưa
có hàng ngũ giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân
này chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm.
Thật vậy, Phúc Âm không thể đi sâu vào tinh
thần, đời sống và sinh hoạt của một dân
tộc, nếu không có sự hiện diện linh hoạt
của giáo dân.” (Sl. Truyền giáo 21).
Giờ
đây, chúng ta cần xác định và ý thức vai trò cũng
như trách nhiệm của người giáo dân.
Hai
mươi năm sau Công Ðồng, năm 1987, từ nội
dung các văn kiện trên cùng với kinh nghiệm bản
thân cũng như toàn thể Giáo Hội, Thượng
Hội Ðồng Giám Mục với sự tham dự của
các đại diện giáo dân nam nữ, đã nghiên
cứu rộng rãi sâu xa hơn về ơn gọi và
sứ mạng của giáo dân trong Giáo Hội và thế
giới. Thượng Hội Ðồng nhìn thấy đãờ
có sự hợp tác mới giữa linh mục và giáo dân.
Giáo dân tham dự tích cực vào phụng vụ, vào
việc rao truyền Lời Chúa, dạy giáo lý; phát
triển các nhóm, đoàn thể, các phong trào ... Năm
1988, để trình bàợy cho Giáo Hội hoàn vũ, Ðức
Giáo Hoàng J.P. II đã ban hành Tông Huấn: “Người Tín
Hữu Giáo Dân”, là một tài liệu tóm lược và
đúc kết những kết quả làm việc của Thượng
Hội Ðồng. Ðây cũng được coi như là
cuốn “thủ bản” của người giáo dân.
Sau
này, sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đã gom tóm lại:
“Danh hiệu giáo dân được hiểu là tất
cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và
bậc tu trì được Giáo Hội công nhận.
Họ là những tín hữu đã được tháp
nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh
Tẩy, đã trở nên dân Thiên Chúa, được tham
dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương
giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ.
Ơn
gọi riêng của giáo dân là tìm kiếm nước Thiên
Chúa bằng cách làm những việc trần thế, và
xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ có nhiệm
vụ đặc biệt là soi sáng và xếp đặt
những thực tại trần gian có liên hệ mật
thiết với họ, để chúng không ngừng
được thực hiện và phát triển theo ý Chúa
Kitô, hầu ca tụng đấng Tạo Hóa và đấng
Cứu Chuộc.
Sáng
kiến của giáo dân đặc biệt cần thiết
khi phải khám phá, và tạo ra những phương
thế để đem các đòi hỏi của đạo
lý và đời sống Kitô giáo thấm nhập vào các
thực tại xã hội, chính trị và kinh tế.
Cũng
như mọi tín hữu được Thiên Chúa trao
nhiệm vụ tông đồ qua bí tích Thánh Tẩy và Thêm
Sức, người giáo dân có bổn phận và có
quyền, một mình hay họp thành nhóm, hoạt động
để mọi người khắp nơi biết đến
và đón nhận sứ điệp cứu độ
của Thiên Chúa. Bổn phận này càng thúc bách hơn
nữa, khi chỉ nhờ họ, những người khác
mới có thể nghe được Tin Mừng và nhận
biết Ðức Kitô. Trong các Giáo Hội, hoạt động
của họ cần thiết đến nỗi không có
họ, việc tông đồ của các mục tử
phần lớn không thể phát huy hiệu quả tối
đa” (Sách GLGHCG. 897-900).
“Do
cùng được tái sinh trong Chúa Kitô, mọi tín
hữu đều bình đẳng về phẩm giá và
hoạt động. Nhờ sự bình đẳng thật
sự này, tất cả đều cộng tác xây dựng
Thân Thể Ðức Kitô, tùy theo hoàn cảnh và chức
vụ riêng của mỗi người” (Sách GLGHCG. 872)
Như
thế, đối với sứ mạng của Giáo
Hội, nhờ phẩm giá chung qua các bí tích Thanh Tẩy và
Thêm Sức, người tín hữu giáo dân là người
đồng trách nhiệm với tất cả các vị
thừa tác viên đã được phong chức chức
thánh, với các tu sĩ.
Mọi
thành phần của Giáo Hội đều phải tham gia vào
lãnh vực trần thế, nhưng bằng những cách
thế khác nhau. Cách riêng vì bản chất riêng biệt
của người giáo dân là sống giữa đời và
làm việc với đời, nên chính họ được
Thiên Chúa mời gọi để một khi tràn đầy
tinh thần Kitô giáo, họ làm việc tông đồ
giữa trần thế như muối ướp mặn, ánh
sáng chiếu tỏa và men dậy trong bột, để thánh
hóa thế giới bằng việc thực thi các nhiệm
vụ của mình. “Thế giới” đã trở nên
môi trường và phương thế cho ơn gọi
của người giáo dân, một trách nhiệm “đem
đạo vào đời”. Trước sự biến
đổi không ngừng của thế giới, Công Ðồng
đã đề cập đến 5 vấn đề
rất quan trọng và phức tạp của thế
giới liên hệ đến hàng ngũ giáo dân: hôn nhân và
gia đình, văn hóa, kinh tế xã hội, chính trị và
hòa bình nhân loại.
Về
phương diện Phong Trào, mục tiêu tối hậu là
giúp các Cursillista sống ý thức ơn gọi giáo dân và
rồi cùng nhau Phúc Âm hóa thế giới bằng phương
tiện tông đồ giáo dân, đặc biệt chú tâm
đi vào những môi trường bên ngoài mà không
thuận tiện đối với hàng giáo sĩ như
“khi chỉ nhờ họ, những người khác
mới có thể nghe được Tin Mừng và nhận
biết Ðức Kitô”(GLHGCG 900).
Tính
cách trần thế là đặc tính riêng biệt của
giáo dân, nhưng không chia cách họ khỏi thành phần
linh mục, tu sĩ.
Các
thợ vườn nho đều thuộc thành phần Dân
Chúa, dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Tất cả
đều tham gia vào sứ mạng cứu độ
của Giáo Hội. Tất cả mọi người và
mỗi người làm việc trong vườn nho duy
nhất của Chúa, chung cho mọi người, với
ơn đoàn sủng và những thừa tác vụ tuy có
khác nhau nhưng lại bổ túc cho nhau. Trong Giáo Hội
hiệp thông, các bậc sống kết hợp chặt
chẽ với nhau, đến mức độ quyện
chặt lấy nhau. Mỗi sắc thái của một
bậc sống là một khuôn mặt độc đáo, là
những chi thể sống động của một thân
thể của Chúa Kitô được xây dựng trong Chúa
Thánh Linh, cùng sinh hoạt hỗ tương để
tạo thành một cộng đoàn dân Chúa duy nhất, xây
dựng Giáo Hội tươi đẹp giống như
một cánh đồng có nhiều thứ cây cỏ,
hoa trái tuyệt vời và đẹp mắt. Thánh Ambrôsiô
đã viết: “Những cánh đồng tốt nhất
chính là nơi trổ sinh nhiều hoa lẫn nhiều trái.
Cánh đồng Giáo Hội là nơi trổ sinh cả hoa
lẫn trái. Ở đây anh chị em có thể thấy
đức khiết tịnh trổ hoa, nơi khác đời
sống góa bụa biểu dương sự khắc
khổ của Giáo Hội như những rừng cây trong
đồng bằng. Ngoài ra những cuộc hôn nhân
được Giáo Hội chúc phúc như ngày mùa gặt hái
đổ đầy hoa trái vào các kho lẫm bao la của
thế giới, và máy ép nho của Chúa Giêsu đầy
ắp trái nho của vườn nho sai trái, làm phong phú
đời sống hôn nhân Công Giáo”.
Qua
những giáo huấn trên, và nhất là qua hình ảnh là
những chi thể của Chúa Kitô, chúng ta đã thấy
được tầm mức quan trọng của sự
hiệp nhất với nhau, tất cả mọi cá nhân, cũng
như các thành phần dân Chúa ố giáo dân và linh
mục.
Linh
mục là một hồng ân Chúa đã ban cho cộng đồng
dân Chúa. Các linh mục bảo đảm sự hiện
diện thường trực của các Bí Tích của Chúa
Kitô, Ðấng cứu độ qua các thời gian và không
gian. Trách nhiệm của một linh mục rất nặng
nề, nên ngoài việc cầu nguyện, người giáo
dân còn cần cộng tác với các Ngài cụ
thể như Giáo Hội đã hướng
dẫn:
“Giáo
dân nên tập thói quen cộng tác chặt chẽ với các
linh mục để hoạt động trong giáo xứ...
Họ cũng phải tùy sức mà cố gắng đóng
góp vào mọi công việc tông đồ và truyền giáo
của gia đình Giáo Hội địa phương
của mình” (Sl.TÐGD 10).
“Còn
các giáo dân, họ phải liên kết với giám
mục của mình, như Giáo Hội gắn bó với Chúa
Kitô, và như Chúa Kitô với Chúa Cha” (GLGHCG 896).
“Tất
cả anh chị em hãy theo giám mục, như Chúa Kitô theo
Chúa Cha; hãy theo linh mục đoàn như theo các tông đồ.
Ðừng ai làm việc gì liên quan đến Giáo Hội ngoài
ý giám mục.” (Thánh Inhaxiô Antiôkia).
Trước
khi bế mạc khóa học để trở về
với môi trường thường nhật, người
Cursillista đã được nhắn nhủ: “Người
Cursillista cũng luôn hiểu rằng, mình đang hoạt
động trong một Giáo Hội có phẩm trật, do Ðức
Thánh Cha lãnh đạo, và dưới quyền ngài là các
Ðức Giám Mục, Linh mục. Do đó, không bao giờ người
Cursillista được làm việc theo ý riêng, tách
khỏi Giáo quyền, hoặc theo bè rối chống
lại hàng Giáo phẩm; trái lại, phải tuyệt đối
trung thành, vâng lời, yêu mến và tôn kính các vị
đại diện Chúa. Tiêu biểu gần nhất là các
Linh mục tuyên úy, các Linh mục quản nhiệm cộng
đoàn. Người Cursillista phải tận tình cộng tác
với các ngài, để công việc mục vụ Chúa
trao cho các ngài được hoàn thành tốt đẹp”.
Linh
mục là những người có chức thánh, nhưng
vẫn là những con người với những yếu
đuối và bất toàn, vì thế, người giáo dân
càng cần cộng tác chặt chẽ qua việc chia
sẻ cảm thông và nâng đỡ trong đường hướng
xây dựng chân thành. Thật cảm động trong
trại Vững Tin II 2002 tại Adelaide, với bài chia
sẻ : “Người tín hữu sống niềm tin trước
những khủng hoảng trong Giáo Hội hiện nay”,
Cursillista Phùng Ngọc Thanh đã xác định: “Chúng con
là thành phần tín hữu Việt Nam đang sinh sống
tại hải ngoại. Ðiều mà chúng con muốn nói lên
hôm nay là lòng tri ân đối với hàng giáo phẩm. Chúng
con biết khi mà quý cha, quý tu sĩ đã chọn con
đường theo Chúa Kitô để phục vụ Giáo
Hội là con đường dấn thân quên mình để
phục vụ tha nhân, quý vị chính là những hồng
ân Chúa ban cho chúng con; nhưng gần đây đã có
những tai tiếng do một thiểu số trong hàng ngũ
giáo sĩ đã gây ảnh hưởng không tốt cho Giáo
Hội! Hậu quả là tất cả đều
chịu đau khổ trong khi chỉ có thiểu số là
thủ phạm... Chúng con biết điều này đã làm
cho quý cha, quý tu sĩ cảm thấy đau lòng không ít,
xin quý vị đừng nghĩ rằng chúng con sẽ
giảm bớt lòng kính trọng đối với hàng giáo
phẩm.
Chúng
con tạ ơn Chúa, vì Chúa đã không chọn các Thiên
Thần làm linh mục, mà Chúa chọn linh mục là
những con người bình thường như chúng con,
để các ngài thông cảm và hiểu được
sự yếu đuối tội lỗi của con người
... Quý linh mục, tu sĩ chính là nguồn hy vọng, là
tấm gương sáng, là ngọn đuốc soi đường
trong đêm tối thế gian để dẫn đưa
chúng con đi” (Bản Tin Ultreya tháng 11/02).
Người
tín hữu giáo dân ngoài công việc thánh hóa bản thân, còn
trách nhiệm hết sức nặng nề trong bậc
sống gia đình của mình, cùng với những trách
nhiệm ngoài xã hội. Chính vì vậy, người giáo dân
rất cần sự cảm thông, nâng đỡ và
nhất là tạo điều kiện dễ dàng trong các công
tác tông đồ nơi hàng giáo phẩm, cách riêng là các
linh mục trách nhiệm. “Các vị chủ chăn
phải thừa nhận và cổ võ các thừa tác vụ,
nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu giáo
dân, những nhiệm vụ và tác vụ này có nền
tảng bí tích trong phép Rửa Tội, Thêm Sức và hơn
nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người
trong giáo dân” (T.H. NTHGD 23). Tính cách độc quyền và
áp chế là những hình thức cản trở sự kiên
trì hoạt động của giáo dân. Ngày nay, vì sự
vất vả về đời sống vật chất
rất dễ làm cho người giáo dân thiếu sót trách
nhiệm với Giáo Hội, nên càng cần các linh mục
gần gũi và khuyến khích nhiều hơn.
Sự
nhiệt tâm và thi hành đúng tinh thần của các linh
mục không những là gương sáng, mà còn là động
lực thúc đẩy người giáo dân dấn thân thêm
trong công tác tông đồ. Sự khiêm nhường
phục vụ của các linh mục, những “alter
Christus”, theo gương vị linh mục tối cao Giêsu:
cúi mình rửa chân cho các môn đệ, sẽ là những
liều thuốc bồi dưỡng và là hình thức
huấn luyện tinh thần cho người giáo dân hữu
hiệu nhất. Nhìn vào các đơn vị thiện
chiến và kỷ luật của quâạn đội, thì
đều thấy những nơi đó họ có
truyền thống tốt đẹp: các vị chỉ huy
luôn là những người tiên phong đi đầu và thương
yêu giúp đỡ thuộc cấp hết mình. Ðã “tâm
phục khẩu phục” rồi, thì người lính
sẵn sàng sống chết cho cấp chỉ huy của mình.
Ngày
nay cùng với đà tiến hóa của xã hội cũng
như vì nhu cầu thực tế, sự hiệp nhất
giữa hàng giáo phẩm và giáo dân đã thật khắng
khít và bao rộng. Tại nơi nhiều Giáo Hội địa
phương, các giáo dân đã tích cực hợp tác và
chia sẻ bớt các công việc mục vụ cho linh
mục, cũng như “các Nghị Phụ rất quý
mến sự tận tâm sẵn có của họ để
phục vụ các cộng đồng trong Giáo
Hội, và việc chuẩn bị của họ để
thay thế các vị chủ chăn trong những trường
hợp khẩn cấp hay trong các nhu cầu nhất
thời” (T.H. NTHGD 23) . Tuy nhiên vẫn không thiếu
những trường hợp đáng tiếc xảy ra
ở nhiều nơi làm mọi người cần
phải xét mình luôn, để kịp thời xây dựng
lại. Sự sai sót là điều không thể thiếu nơi
con người, nhưng sự sám hối, sửa sai và
đổi mới cũng là bổn phận quan trọng
của mọi người con Chúa.
Ðể
giúp nhau chu toàn sứ mạng của mọi ơn gọi
trong Giáo Hội, mọi người cần tạo điều
kiện cho nhau để sống theo Lời Chúa, thực
thi bác ái yêu thương hiệp nhất. Ðức Giáo Hoàng
Gioan Phalô II đã nhắc nhở: “Ðể xây dựng
chắc chắn ngôi nhà chung, chúng ta phải khước
từ óc chia rẽ bè phái; ngược lại chúng ta
phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau
bằng một tâm hồn nhẫn nại, sáng suốt và
sẵn sàng hy sinh.”
Một
lần nữa, chúng ta cùng đọc lại lời
cầu của Thầy Chí Thánh là ý lực sống trong tháng
này: “Xin cho chúng nên một
“(Jn. 17,21), để cảm
tạ Thầy đã nối kết mọi người
trong tình yêu Thầy qua ơn hiệp thông trong Giáo Hội,
biểu lộ sự hiệp thông tình yêu đời đời
của Thiên Chúa Ba Ngôi. Ý thức được đó là
ơn Chúa, thì phải ý thức trách nhiệm: Hiệp
nhất là ơn Chúa ban cho mỗi người như nén
bạc Chúa trao, thì chúng ta phải sinh lợi sự
sống hiệp nhất này mỗi ngày một phát
triển thêm.
Thế
giới hôm nay tiến bộ và dư thừa nhiều
mặt nhưng vẫn đói khát sự hòa bình. Chúng ta
cần sống theo gương đại kết của
vị Cha chung hầu đáp ứng lại nhu cầu
khẩn thiết này. Hãy cùng nhau cầu nguyện và
hiệp nhất để xây dựng cộng đồng,
giáo xứ luôn là: “một gia đình của Chúa, một
cộng đồng huynh đệ chỉ có một linh
hồn”, là “mái ấm gia đình đầy tình huynh
đệ và mở rộng đón tiếp mọi người”,
hay như Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII thường nói là
“giếng nước của thôn xóm” để mọi
người đến giải khát.
Bản
Tin tháng 5.
(Các
tài liệu tham thảo: - Tông Huấn Người Tín
Hữu Giáo Dân
-
Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo )
|