|
HIỆP
NHẤT VỚI HÀNG GIÁO PHẨM - DẤN THÂN VÀ CỘNG TÁC
Gioan
B. Nguyễn Văn Thanh
“Xin
cho chúng nên một.” (Jn. 17:21).
Trong
một bữa cơm tại nhà một người
bạn, khách được mời toàn là người quen
và là người Công Giáo nên câu chuyện mở đầu
xoay quanh những vấn đề của Cộng Ðồng,
chuyện Giáo Ðoàn. Bỗng có một người lên
tiếng: “Thôi việc của Cộng Ðồng để
các ông trùm lo, chúng ta dô đi”! Mọi người cùng nâng
ly cười nói vui vẻ. Từ lúc đó câu chuyện
được đổi sang đề tài chiến tranh
Iraq, chuyện xây nhà, chuyện con cái.v.v.
Câu
nói: “ việc Cộng Ðồng để các ông trùm lo”
đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều về quan niệm
chung chung của mọi người đối với công
việc của Cộng Ðồng, của Giáo Hội. Như
vậy người giáo dân làm gì trong Giáo Hội?
Trước
Công đồng Vatican II, do hoàn cảnh lịch-sử xã
hội và chính trị thúc đẩy, Giáo hội phải
đề cập đến quyền bính của Giáo
hội là “Thần quyền” trước sự lấn
áp của “Thế quyền”. Vì thế các nhà thần
học đã không nhấn mạnh đủ về bản
tính thiêng liêng của Giáo hội nhất là về sự
cấu tạo thần học của Giáo hội là Dân Thiên
Chúa.
Với
Công đồng Vatican II, trong hoàn cảnh mới của xã
hội con người, Giáo hội ý thức rõ ràng hơn
về bản tính siêu nhiên của mình là Thân thể
của Ðức Kitô, là Dân Chúa nên đã thấy rõ vai trò
của người tín hữu giáo dân trong việc rao
truyền Phúc âm, trong công việc tông đồ của Giáo
Hội.
Trong
Hiến chế “Ánh Sáng Muôn dân” (Lumen gentium) Công đồng
Vatican II đặt các tín hữu giáo dân vào một
chổ đứng căn bản rất quan trọng. Công
đồng đã xác quyết như sau: “Danh hiệu giáo
dân ở đây được hiểu là tất cả
những Kitô-hữu không có chức thánh hoặc bậc tu
trì được Giáo hội công nhận, nghĩa là
những Kitô hữu đã được tháp nhập vào
Thân thể Chúa Kitô nhờ phép Rửa, đã trở nên Dân
Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn
sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách
thức của họ. Họ
là những người đang thực hiện sứ
mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo hội và giữa
trần thế theo phận vụ riêng của mình. (số
31.)
Ðể
nhấn mạnh thêm về vai trò của Giáo dân trong công
việc tông đồ của Giáo hội, Công đồng
đã ra “Sắc Lệnh Tông đồ Giáo dân” để
làm cho người tín hữu giáo dân ý thức trách
nhiệm của mình, một trách nhiệm được các
tín hữu từ thuở sơ khai của Giáo hội đã
ý thức rõ ràng, nhưng đã bị quên lãng trong các
thế kỷ trước đây. Công đồng viết:
“Công đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn
việc tông đồ của Dân Thiên Chúa, nên chú tâm hướng
về các Kitô hữu giáo dân, những người có
phần riêng biệt và cần thiết trong sứ mệnh
của Giáo hội. Vì bản chất riêng biệt của
người giáo dân là sống giữa đời và làm
việc đời, nên chính họ được Thiên Chúa
mời gọi để làm việc tông đồ giữa
trần thế như men trong bột. Như vậy hết
mọi tín hữu giáo dân đều có bổn phận
rất cao cả là hoạt động để mọi người
trên khắp hoàn cầu nhận biết và đón nhận
Phúc âm cứu độ của Chúa.”( số 1-3.).
Làm
việc tông đồ là một ơn gọi.
“Không
phải các con chọn Thầy, nhưng là chính Thầy
chọn các con và sai các con đi để mang lại
kết quả và để kết quả ấy tồn
tại.” (Gio.15,16). Có người nghĩ rằng Chúa Giêsu
có ý nói với các Tông đồ của Ngài chứ không
nói chung cho các môn đệ đi theo Ngài, nghĩa là Ngài
chỉ “gọi” và “Sai” các Tông đồ mà thôi. Nhưng
thánh Luca kể lại sự kiện sau đây để
cho chúng ta thấy Ðức Giêsu đã chọn thêm 72 môn
đệ và sai họ đi rao giảng Phúc-âm: “àChúa
đã chọn thêm 72 người khác và sai họ từng
nhóm 2 người đi trước Ngài vào các thành các nơi
mà Ngài sẽ đi tới...” (Lc.10,1-20). Tất cả
mọi tín hữu giáo dân đều là “môn đệ”
của Ðức Giêsu Kitô. Và chúng ta được Ngài
gọi và sai đi rao giảng Tin mừng cho thế gian.
Nếu là “Ơn gọi” và “sứ mệnh”, thì chúng
ta phải hiểu đây là trách-nhiệm. Nếu là trách
nhiệm thì chúng ta phải thực thi, nếu không chúng ta
không còn là Kitô hữu nữa.
Như
vậy người tín hữu giáo dân không thể viện
một lý do gì để khước từ làm việc tông
đồ trong môi trường mà mình đang sinh sống.
Vì tầm mức quan trọng như vậy, nên Ðức Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II đã ra Tông huấn “Người Tín
Hữu Giáo Dân” (Christifideles laici) gởi cho toàn thể Giáo
hội để giải thích rõ ràng đặc biệt
cho mọi tín hữu giáo dân biết rõ sứ mệnh
của mình trong Giáo hội và giữa lòng trần thế:
“Mỗi một người và tất cả mọi người
đều được mời gọi để hoạt
động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện theo cách
thức khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những
đoàn sủng và chức vụ khác nhau. Sự khác
biệt này không chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng còn
tùy thuộc vào sự khác biệt của phái tính, tài năng
và tư cách, cũng như liên hệ đến những
ơn gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính
chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo
Hội linh động và cụ thể hơn.”
Hiệp
nhất với Giáo Hội qua hàng giáo phẩm:
Nền
tảng của ơn gọi và sứ mệnh của người
tín hữu giáo dân chính là sự sống mới, sự
sống của Ðức Kitô trong chúng ta. Sự hiệp thông
của mỗi người tín hữu với Ðức Kitô và
với tất cả các tín hữu khác làm thành Giáo
Hội, là thân thể của Ðức Kitô. Ðức Kitô
đã dùng một hình ảnh rất cụ thể linh
động để giải thích cho các môn đệ
hiểu rỏ sự sống hiệp thông nầy qua dụ
ngôn cây nho và cành nho: “Ta là cây nho chúng con là cành. Cành nào
ở trong ta và Ta ở trong nó, nó sẽ trổ sinh
nhiều hoa trái.”( Gio.15,5). Qua hình ảnh nầy chúng ta
thấy những yếu tố mới của đời
sống Kitô-hữu là:
-
Cây
với cành cùng chung một sự sống. Nếu Ðức
Kitô là Cây Nho và chúng ta tất cả là cành, thì chúng
ta được sống cùng một sự sống
của Ðức Kitô.
-
Giữa
Cây và cành có một sự Hiệp thông sự sống
chung. Nếu mỗi cành của Cây đều hiệp thông
với Cây, thì các cành đều hiệp thông với
nhau.
-
Hoa
trái được trổ sinh từ cành khi cành ở
trong Cây. Vì thế cành nào rời khỏi Cây nó không
thể trổ sinh hoa trái.
Hình
ảnh Cây nho và cành nho cho chúng ta thấy: Muốn làm tông
đồ cho có kết quả điều kiện tuyệt
đối là chúng ta phải “hiệp thông” với
sự sống đức Kitô và “hiệp thông “ với
tất cả anh em khác là các cành nho của Cây nho. Vì
thế trong Tông huấn “Người Tín Hữu Giáo Dân”
Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định:
“Thông hiệp với Chúa Giêsu là nguồn hiệp thông
giữa các Kitô hữu với nhau là một điều
kiện không thể không có để trổ sinh hoa trái như
chính Ðức Kitô đã nói: Ngoài Ta, chúng con không thể làm
được việc gì.”
Giáo
Hội Chúa là Thân thể của Ðức Kitô, mỗi thành
phần, mỗi chi thể có ơn đoàn sũng riêng, có
ơn gọi riêng để xây dựng Giáo Hội.
Tất cả các chi thể tuy nhiều nhưng chỉ
tạo thành một thân thể, cũng thế các tín
hữu hợp thành một thân thể trong Chúa Kitô.
Dựa vào giáo lý nầy, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
đã đề cao trách nhiệm tông đồ của người
tín hữu giáo dân như sau: “Các chủ chăn biết rõ
giáo dân giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo hội.
Các ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt các ngài lên
để một mình lãnh lấy tất cả sứ
mệnh cứu độ của Giáo hội đối
với thế giới, nhưng nhiệm vụ cao cả
của các ngài là hướng dẫn tín hữu và
nhận biết các phận sự và ơn sủng riêng
của họ để mọi người cùng góp
phần vào công cuộc chung tùy theo cách thức của
họ trong sự hợp nhất.” (số 32). Vì
vậy sự hợp nhất với hàng giáo phẩm là
một đòi hỏi quan trọng hàng đầu.
Dấn
thân tích cực, trưởng thành:
Ðể
việc tông đồ có kết quả Ðức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II đã xác quyết người giáo dân
phải tích cực dấn thân, phải nắm vững giáo
lý, tham dự các bí tích và trưởng thành lương tâm
trong lãnh vực luân lý và xã hội. Mục đích
của việc rao giảng Tin Mừng trong thế giới hôm
nay, làm việc tông đồ không chỉ giới hạn
ở công việc quảng bá đức tin, tăng số
những người chịu phép rửa, hoặc cứu các
linh hồn, nhưng còn nhằm đem lại công bằng,
yêu thương, hòa hợp cho tất cả mọi người,
nhất là những người xấu số, bị
bỏ rơi hay không có tiếng nói.
Nhưng
trước hết, việc tông đồ muốn
được kết quả phải đi đôi với
chứng nhân cuộc sống vì “Con người thời
đại ngày nay thích lắng nghe các chứng nhân hơn
các giáo sư. Và nếu họ lắng nghe các giáo sư,
chính vì các vị này là những chứng nhân thật
sự.” (ÐGH Phaolô VI)
Dấn
thân trong niềm vui không lo thành công hay thất bại:
Công
việc tông đồ thành công hay thất bại không thành
vấn đề. Ðiều quan trọng là chúng ta làm
việc đó có nhằm mục đích để xây
dựng Giáo Hội, làm vinh danh Chúa hay không? Thường
khi đứng trước những khó khăn, trở
ngại trong thực tế chúng ta hay nản lòng và dễ
dàng bỏ cuộc như Thánh Phêrô xưa: “Thưa Thày,
chúng con đã khó nhọc suốt đêm mà chẳng
bắt được con cá nào”. Nhưng chúng ta cũng
ý thức rằng việc tông đồ không dựa trên
những lý luận thuần túy con người. Ðó là công
việc của Chúa Thánh Thần. Ngài muốn thổi đến
đâu thì thổi. Vì thế chúng ta phải bắt chước
Thánh Phêrô hoàn toàn tin tưởng vào Chúa để can
đảm nói lên: “ Vâng Lời Thày, chúng con sẽ
thả lưới”.
Dấn
thân trong niềm hy vọng
Thường
nếu chúng ta nhìn một vấn đề một cách tiêu
cực thì chúng ta sẽ cảm thấy bi quan. Như tôi
đã trình bày ở phần trên. Thường thì có
nhiều người thờ ơ với công việc tông
đồ, với những công việc của Cộng Ðồng
lắm. Nhưng khát vọng dấn thân và nhu cầu tôn giáo,
nhu cầu hợp quần của những người cùng
chung một văn hóa, một tiếng nói không thể
chết hẳn được. Tự trong thâm tâm của
mỗi người khó có can đảm đối đầu
với những câu hỏi quan trọng nhất của
cuộc sống như đâu là ý nghĩa của cuộc
sống, sự đau khổ và sự chết. Chính vì
vậy, bên cạnh sự thờ ơ lãnh đạm đối
với công việc của Giáo Hội thì cũng có
biết bao nhiêu người tín hữu đang quảng
đại dấn thân vào các lãnh vực chính trị, xã
hội để phục vụ tha nhân.
Thưa
quý anh chị,
Ðối
diện với tình trạng thờ ơ, thụ động,
hờ hững ... Với sứ vụ sống và rao
truyền Tin Mừng của người Công Giáo thời
nay, yêu cầu tiên quyết là thái độ sống đạo
và làm việc tông đồ của chúng ta. Ðó là làm sao
tạo được một khí thế mới và lòng
nhiệt thành mới. Hơn bao giờ hết, lúc này Giáo
Hội, Cộng Ðồng nhỏ bé của chúng ta cần
những người biết sống với đức tin
một cách thâm sâu, sống trung thực với lý tưởng
của mình và can đảm, hăng say, nhiệt thành loan báo
Tin Mừng và phục vụ những người chung quanh.
Mười
lăm năm qua tôi được may mắn phục
vụ Giáo Hội qua Cộng Ðồng nhỏ bé của chúng
ta. Bên cạnh những niềm vui, cũng có không biết
bao nhiêu nỗi buồn, nỗi khổ tâm phải vượt
qua. Nhưng nhờ ơn Chúa và với ý thức là làm
việc tông đồ phục vụ trong Hội Ðồng
Mục Vụ không phải chỉ là tổ chức
những lễ nghi phụng vụ ở trong nhà thờ, nhưng
còn là góp phần xây dựng một mái nhà tinh thần cho
người Việt Nam chúng ta trong cuộc sống tha hương,
và nhất là góp phần xây dựng lại con người
Việt Nam theo tinh thần Phúc Âm, sau những phân rẽ vì
chiến tranh, vì ý thức hệ. Với lý tưởng
đó, đã giúp tôi vượt qua rất nhiều khó khăn
và mạnh dạn bước đi cho đến ngày hôm
nay.
Trong
những năm qua, ngoài việc tổ chức những sinh
hoạt đạo đức, Cộng Ðồng chúng ta
đã thực hiện rất nhiều công việc tông
đồ khác như: Xây dựng con người theo tinh
thần Kitô giáo qua các khóa huấn luyện, hội
thảo. Xây dựng cơ sở vật chất. Thực
hiện các việc bác ái, từ thiện, xã hội để
đáp ứng các nhu cầu của mọi người như
việc: thành lập Hội Thánh Minh Tương Tế, thành
lập nghĩa trang, tổ chức quyên góp giúp các
việc từ thiện bên Việt Nam, giúp nạn nhân bão
lụt, hỏa hoạn, nạn nhân chiến tranh.v.v.
Bất
cứ một tổ chức nào cũng có những ưu
điểm và khuyết điểm. Người bi quan nhìn
vào tờ giấy trắng có vài vết mực họ
chỉ nhìn thấy những vết mực. Ngược
lại, người có tinh thần lạc quan sẽ nhìn
thấy đó là tờ giấy trắng. Trong cuộc
sống hôm nay, làm bất cứ việc gì cũng có
những khó khăn, những thách đố. Nhưng Người
Kitô hữu là người luôn sống có lý tưởng.
Kitô giáo là đạo của tình yêu. Một người
Kitô hữu phải sống với tình yêu và lý tưởng.
Tình yêu và lý tưởng ấy phải được
diễn tả bằng những hành động cụ
thể qua việc phục vụ tha nhân, phục vụ
Cộng Ðồng.
Cộng
Ðồng chúng ta đang cần những người dấn
thân phục vụ Cộng Ðồng. Ước mong và
cầu chúc quý anh chị mạnh dạn dấn thân,
hợp tác với quý Cha Tuyên Úy và những anh chị em khác
để phục vụ Giáo Hội Chúa, đó chính là chúng
ta phục vụ thân thể của Ðức Kitô, Thày Chí Thánh
của chúng ta.
|