QUÁ KHỨ VÀ HIỆN TẠI

Đến lúc lớn tuổi, người ta thường sống với quá khứ, với kỷ niệm. Chính vì vậy mà có sự ra đời của những hội ái hữu, những gia đình cựu này cựu nọ ... để cùng nhau hội họp mà nhắc đến chuyện xa xưa. Mỗi lần gặp gỡ tụ họp, là đủ thứ chuyện dĩ vãng được khơi dựng lại, kể mãi mà vẫn không hết.

Những lúc rảnh rỗi một mình nhâm nhi bên tách cà phê, thì lim dim nhớ lại những thời kỳ oanh liệt thuở còn trai trẻ, để mà hãnh diện, để mà tiếc nuối cái tuổi xuân huy hoàng sao mà trôi qua nhanh quá.

Riêng cuộc đời tôi lúc nào cũng bình bình theo chủ nghĩa "lai rai", chẳng có gì đặc biệt, nên thường chỉ hay nhớ lại những ngày sống hồn nhiên, vô tư thời thơ ấu trong một gia đình miền quê nghèo nàn nhưng ấm cúng. Những kỷ niệm này thật dễ thương và đáng ghi nhớ, vì nó là nền tảng cho cuộc sống của tôi sau này.

Sau cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam, dù rằng đã kiếm được việc làm tương đối ổn định, nhưng cuối cùng mẹ tôi cũng đưa gia đình xuôi Nam về vùng Cái sắn, để tiếp tục công việc đồng áng chân lấm tay bùn, cái kiếp số vất vả của cha ông đã trải qua nhiều thế hệ.

Tôi hiểu rằng lời kêu gọi "miền Nam ruộng nhiều lắm, cứ gọi là thẳng cánh cò bay" cũng không cám dỗ nổi mẹ tôi đâu, vì rằng mẹ tôi thích nghề làm ăn buôn bán. Nhưng quyết định bỏ việc để về quê là vì nặng tình gia đình, anh chị em và dân làng đi cả thì không đành xé bầy ở lại. Thôi thì dù đói dù no mà có chị có em thì vẫn tốt hơn cả.

"Kênh Thầy Ký" là địa chỉ chính thức của gia đình tôi ở miền Nam nước Việt, thuộc xã Thạnh An, là xã cuối cùng của tỉnh An Giang, giáp ranh giới với tỉnh Kiên Giang. Kênh này là một trong hai kinh đặc biệt của vùng Cái Sắn mà không theo thứ tự tên bằng các mẫu tự A, B, C ... hay số 1, 2, 3 ... Kênh này cũng đặc biệt nhất là ngắn tủn, chỉ bằng có một phần tư các kênh khác. Kênh này được thành lập bởi người di cư Công Giáo toàn tòng, gồm các giáo dân thuộc gốc địa phận Hải Phòng. Cũng vì ngắn, nên chỉ có một giáo xứ với tên gọi là xứ Thánh Gia, thuộc địa phận Long Xuyên. Người trong kênh chúng tôi vẫn thường hãnh diện là người của "kênh Thầy, xứ Thánh"!

Dưới quê không những ruộng tốt, mà cá tôm thì nhiều vô kể nên cuộc sống chẳng lo bị đói, nhưng điều kiện sống thì thật thấp kém. Gia đình nào cũng phải tranh thủ đào ao lấy đất làm nền nhà tránh lụt, rồi mỗi năm lại vẫn phải gánh đất bồi đắp cao thêm, báo hại căn nhà nhỏ chính phủ cấp phát ngày càng thấp, có khi phải cúi khom mới vào nhà được. Thấp quá thì hùa nhau lại và cùng "bắn" lên. Đổ đất cao như vậy mà gặp đôi năm nước lớn, vẫn có thể ngồi trên giường câu cá được, vì cả vùng là biển nước mênh mông. Nhớ lại cứ mỗi mùa lụt, thì thế nào cũng có vài ba mạng nhi đồng chúng tôi về chầu Chúa vì "yêu nước", chết đuối.

Với điều kiện sống như vậy, nên thời gian đầu rất vất vả để lo chỗ ở và nhà thờ cho hàng xứ. Trường học chung chưa có, chúng tôi phải tụ họp lại nhà các thầy, cậu hay cô giáo mà học.

Tuy nhà thờ thô sơ thiếu thốn, nhưng các sinh hoạt đạo đức đã sớm ổn định ngay từ đầu. Các đoàn thể cho các giới được tổ chức đầy đủ, nên hầu như chẳng mấy ai nằm ngoài đoàn thể cả. Cách riêng là quý vị con nít chúng tôi, những "mầm non của tổ quốc và Giáo Hội", đều được chăm sóc kỹ lưỡng. Đứa nào cũng phải ở trong hội "Đồng nhi" do các ông trương khó tính trông coi; để mà gọi nhau đi học giáo lý, tham dự Thánh Lễ và giờ chầu dành riêng cho con nít vào ngày Chúa Nhật. Đó là chưa kể đến các Thánh Lễ từ sáng sớm tinh sương và buổi đọc kinh ban tối hàng ngày, dù nắng hay mưa, dù mùa khô hay mùa lụt. Hàng xứ và các gia đình quả là đã áp dụng triệt để câu ca dao tục ngữ "dạy con còn thuở còn thơ", "tiên học lễ, hậu học văn" và "yêu cho roi cho vọt".

Tôi phải viết rõ ra là "các ông trương khó tính" là vì các ngài khó thật. Hình như hễ ông nào dễ dãi thì không được tuyển chọn cho chức vụ này thì phải. Trong nhà thờ, em nào mà thích nói chuyện hay ngủ gà ngủ vịt thì thế nào cũng lãnh một roi ngay, không oong đơ gì cả. Có vị khó hơn, đứa nào không đọc kinh thì cũng bị đòn, nên công tâm mà nói, nhờ vậy mà chúng tôi kỷ luật và thuộc kinh nhiều lắm.

Anh em tôi thì còn được "chăm sóc" kỹ hơn nữa, vì mẹ tôi là là bà quản của hội "con Đức Mẹ", nghĩa là chức sắc của hàng xứ. Đâu có buổi lễ và buổi đọc kinh nào mà mẹ tôi không có mặt, nên hầu như hễ lỡ bị đòn ở nhà thờ thì về nhà thường là sẽ bị thêm một lần nữa, chắc có lẽ vì tội "con bà quản mà để bị phạt!". Sau này để chắc ăn, khi đã xưng tội rước lễ lần đầu được một năm, mẹ xin cho tôi vào đội ngũ các "cậu" giúp lễ, được ngủ trong nhà xứ, ê a học tiếng La tinh và với ước mong nhờ gần cha gần Chúa, thì tôi sẽ thích đi tu.

Về phương diện đạo đức, một kỷ niệm không quên được nơi mẹ tôi là phần kinh tối phụ thêm trước khi ngủ. Sau khi rửa ráy chân tay và đã vào màn, thì cho dù đã đi nhà thờ về, tôi vẫn phải đọc riêng ba kính kính mừng, kinh cám ơn và rồi chổng mông giống người đạo Hồi để đọc kinh ăn năn tội cho thảm thiết, kẻo lỡ ban đêm Chúa gọi về bất tử! Kỷ niệm này vẫn giá trị mãi cho cuộc sống tôi sau này trong đời sống thiêng liêng.

Đến giờ nghĩ lại thấy cũng ngồ ngộ, cuộc sống thơ ấu bị gò bó khó khăn như vậy mà sao thuở đó tôi vẫn thấy bình thường. Nhà quê lúc ấy nghèo nàn và khó khăn nên đời sống xã hội của tôi nó chỉ quanh quẩn trong kênh, trong xứ đạo, chẳng mấy khi được đi xa. Cùng một hoàn cảnh, đứa nào cũng như nhau, nên đám con nít chúng tôi chẳng ý kiến ý cò gì cho mệt, cứ theo khuôn mẫu sẵn vậy mà vui sống. Hơn nữa, cuộc sống này đã được hỗ trợ bởi đường lối và chương trình học nơi nhà trường.

Tuy phải gom nhau lại chật chội trong nhà thầy cô giáo, hay sau này nơi trường học, chúng tôi cũng được giáo dục trong tinh thần như vậy. Các thầy, cậu, cô giáo thường được các bậc cha mẹ gởi gấm thêm "các cháu có bề gì thì cứ trừng phạt đích đáng". Sự kính trọng và vâng lời bề trên được tôn trọng triệt để, cùng với sự tiếp sức của những môn học đức dục, công dân giáo dục ... đề cao đạo đức, tình gia đình, tình quê hương và những trách nhiệm. Trẻ con thích chơi hơn học, nhưng dẫu có lười thì cũng chẳng dám không học bài.

Từ tính cách hoàn cảnh xã hội là sinh hoạt hàng xứ đến sự hỗ trợ của nhà trường, trách nhiệm gia đình tự nhiên nhẹ hẳn đi. Thú thật các bậc cha mẹ thời đó đều rất vất vả, ít giờ lo cho con cái, nhưng có xã hội và học đường bù đắp cho sự thiếu thốn này. Sự hòa hợp giữa xã hội thu hẹp và nhà trường, cùng với gia đình đã tạo một cuộc sống tương đối khá an toàn. Những tội ác trong kênh kể như không có, còn các tệ nạn xã hội thì cũng rất hiếm hoi vì những hàng rào kiên cố của hội đoàn và tinh thần giữ thể diện cho gia đình. Các gia đình đều sống theo nề nếp chung, thuận hòa ít những xáo trộn bất thường cùng an phận với cuộc sống:

"Nhà em có vại cà đầy,
Có ao rau muống, có đầy chĩnh tương.
Dù không mỹ vị cao lương,
Trên thờ cha mẹ, dưới nhường anh em".

Trong gia đình, tôn ty trật tự càng được tôn trọng. Đó là nơi của sự tuân phục, chịu phục tùng, chịu sửa phạt. Nếu nhìn dưới khía cạnh "gia đình là trường học đầu tiên", thì đó chính là nơi đào tạo các nhân đức, xây dựng tình yêu thương và ý thức trách nhiệm. Mỗi người lớn nhỏ đều có những trách nhiệm riêng phải chu toàn. Lớn việc lớn, bé việc bé. Tình gia đình thật thắm thiết, mọi người quan tâm chăm sóc đến nhau. Tôi cứ hay nhớ mãi đến thời thơ ấu vì nó gợi nhớ nhiều hình ảnh hết sức cảm động. Tuy thiệt thòi không có chị chăm sóc, nhưng bù lại, các anh tôi dù có ham chơi, thì vẫn hết lòng quan tâm và bênh vực cho tôi. Nhà nghèo làm gì có tiền mua đồ chơi nhưng tôi vẫn chẳng thiếu, mùa nào thứ ấy: các anh sẵn sàng đẽo gụ, làm diều, làm đồ chơi bằng đất, dán đèn trung thu hay ngôi sao bằng tre và giấy .... Có một kỷ niệm mà mỗi lần nhớ lại đều làm tôi bùi ngùi xúc động. Số là lần đó, không nhớ mẹ tôi đi đâu vắng nhiều ngày, ở nhà thì tôi bị bệnh. Cổ đau không ăn cơm được, tôi không chịu ăn cháo với muối mà lại đòi đường. Không có tiền mua đường, người anh thứ hai của tôi mới nẩy sáng kiến chặt mía vắt lấy nước cho tôi ăn cháo. Đây là tô cháo đặc biệt nhất trong đời. Nó biểu hiện tình yêu thương, chăm sóc tận tình và đầy tính sáng tạo. Tô cháo tuy không được ngọt như cháo đường, nhưng thật tuyệt vời. Lúc đó tuy còn nhỏ, nhưng tôi đã cảm nhận được tình cảm thiêng liêng cao quý này và khắc ghi mãi trong tâm hồn cho đến hết đời, dù rằng giờ đây anh đã ra người thiên cổ.

Tôi thấy khuôn mẫu gia đình truyền thống đó không chỉ ảnh hưởng cho riêng gia đình tôi, mà là cho mọi gia đình Việt Nam thời đó. Cũng nhờ vậy mà sự quan tâm và hy sinh cho nhau đã được thể hiện cao độ sau biến cố 30 tháng 4. Các thành viên trong gia đình đã hy sinh nhường nhịn để giúp nhau đi vượt biên, rồi sau đó người đã vượt thoát lại ăn chắt tằn tiện giúp người còn kẹt lại. Theo thống kê thì số tiền người ở hải ngoại gởi về giúp đỡ gia đình ở Việt Nam hàng năm là một con số khổng lồ ít ai tưởng tượng nổi.

Sau này lớn lên và đã học hỏi được nhiều hơn, tôi vẫn hay nhìn lại đời sống trong các gia đình nơi quê nhà. Quả thật thì vì bị ảnh hưởng nhiều nền văn hóa Khổng - Mạnh, nên các bậc có thẩm quyền thời đó có phần lạm dụng quyền hành một cách thái quá, hạn chế tự do của con trẻ về nhiều mặt; từ việc đạo đức, học hành, đến việc phát triển năng khiếu riêng, và ngay cả vấn đề hôn nhân. Tuy không đến nỗi:

"Lấy chồng chẳng biết mặt chồng,
Đêm nằm tư tưởng đến ông láng giềng"

như thời cổ xưa, nhưng vẫn còn nhiều trường hợp ép gả đáng tiếc. 

Dù có nhiều khuyết điểm cần phải thay đổi, nhưng tôi vẫn nhìn thấy những giá trị trong đường hướng giáo dục hỗ tương này. Nó đã uốn nắn đứa trẻ đi vào khuôn mẫu, dần thành thói quen, rồi sẽ được bổ túc dần dần khi lớn khôn thêm và được học hỏi để ý thức hơn. Hiệu quả tích cực mà tôi nhìn thấy được, thì nói chung, ý thức trách nhiệm cá nhân và xã hội của trẻ em thời đó khá cao. Đặc biệt nền hôn nhân gia đình rất vững vàng, tuy có sóng gió trong chế độ đại gia đình, nhưng cũng chẳng thấy ly thân li dị ở dưới quê.

Đến khi lập gia đình, tôi đã vẽ ra một hướng giáo dục con cái theo sự học hỏi và nhất là qua những kinh nghiệm mình đã trải qua, với một viễn ảnh hết sức lạc quan. Nhưng thú thực cho đến giờ này, tôi vẫn như người "bất mãn kinh niên" vì không đạt như ý. Có thể vì ý của tôi nhiều quá, tôi tham lam, hay ý tôi không đúng.

Biết mình bị ảnh hưởng sâu đậm với khuôn mẫu gia đình truyền thống, tôi đã quyết tâm cải cách những phương cách mà chỉ muốn giữ lại cái tinh thần. Khổ nỗi cái tinh thần này lại không mấy được hỗ trợ từ phía học đường và xã hội Tây phương, mà đôi khi lại trái ngược nữa là đàng khác. Nói nào ngay, lúc đầu tôi bất mãn nhiều lắm, nhưng rồi quen dần, cố gắng dung hòa để xây dựng gia đình và tránh nặng nề trong tâm hồn.

Đứng trước những tệ nạn xã hội hiện tại, tôi không khỏi lo âu cho con cái. Ranh giới giữa "còn" và "mất" thấy thật mong manh. Trước hoàn cảnh này tôi tự nhủ: như vậy có phải là bước lùi hay không? Có tiến bộ khoa học, đời sống vật chất được nâng cao và giải phóng tự do mà giá trị đạo đức suy giảm thì có phải là hướng tốt bước tới của con người hay không? Càng nghĩ tôi lại càng trân quý tinh thần đạo đức trong mẫu gia đình Việt Nam truyền thống.

Một gia đình hiệp nhất là một gia đình lý tưởng trong mọi thời đại, cách riêng trong hoàn cảnh các gia đình Việt Nam nơi hải ngoại. Đầy là một thách đố rất lớn lao cho các bậc cha mẹ cũng như con cái trong gia đình. Trước thách đố này, gia đình sẽ còn vững mạnh nếu đừng "xây nhà trên cát", mà quyết tâm "xây nhà trên đá", nơi có nền móng đạo đức bằng sự hiệp thông trong cầu nguyện, cùng củng cố đức tin, xây dựng tình yêu trong Chúa Ba Ngôi và đề cao ý nghĩa thánh thiêng của ơn gọi gia đình. Nếu mỗi người, mỗi gia đình sống được như thế, họ sẽ có ảnh hưởng tương quan xây dựng với người khác và giúp xã hội thăng tiến trong nền văn minh sự sống thực sự.

"Gia đình là tiểu Giáo Hội", "Gia đình là nền tảng của xã hội". Vì vậy, đứng trước những tệ nạn xã hội và chiến tranh tàn khốc, đúng là dịp để tôi phải xét mình nhiều hơn ...

Tom