HIỆP NHẤT TRONG ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

"Ai ở trong Thầy, thì Thầy ở trong người ấy" (Ga 15:5)

LM Giuse Bùi Công Chính. Mùa chay 2003

PHỤC SINH: NIỀM VUI ĐƯỢC ĐÓN NHẬN TRONG NGỠ NGÀNG

Một trong những niềm khắc khoải của con người từ ngàn xưa, là làm sao kéo dài cuộc sống của mình. Để thực hiện giấc mơ trường sinh, Adam Eva đã to gan ăn "trái cấm", người Phương Đông khổ luyện phép "tu tiên", đã trăm phương ngàn cách luyện linh đan diệu dược trường sinh bất tử, cầu mong "tiên tửu, tiên đào". Người Phương Tây cặm cụi nâng cao Y- học, bào chế thuốc men dược liệu, cải tiến kỹ thuật hầu kéo dài tuổi thọ, trẻ mãi không già. Nhưng có lẽ chẳng mấy dân tộc có được niềm tin rằng mình có thể sống lại, và sống lại sau cái chết, cho một cuộc sống vĩnh cửu. Cái chết như một cánh cửa muôn đời khép lại. Hoặc để chấm dứt mới hoàn toàn, hoặc để qua một "kiếp" khác mà cái chết chỉ là một đổi thay trong giai đoạn.

Cũng có thể hiểu được, vì đó là một niềm tin mà con người mong mỏi, một khát vọng từ sâu thẳm của tâm hồn, chứ không phải là một chân lý được trao ban từ trên cao. Và cũng cắt nghĩa được tại sao, dù Chúa Giêsu đã năm lần bẩy lượt dặn dò các Môn đệ thân yêu, biến cố Sống Lại đã được đón nhận rất sửng sốt ngỡ ngàng ngay từ những giây phút đầu tiên. Thật vậy, cả một đời cũng không thể suy niệm trọn vẹn biến cố Phục Sinh, chứ đừng nói chỉ vài dòng bút mực thô sơ mà mong diễn tả trọn vẹn một biến cố vừa là sự kiện lịch sử, vừa là mầu nhiệm siêu việt được mạc khải trong yêu thương. Thế nên đón nhận ngỡ ngàng là phải.
Phục Sinh vừa là biến cố lịch sử được các môn đệ chứng thực vì họ đã thực sự gặp Đấng Phục Sinh, vừa là mầu nhiệm siêu việt vì nhân tính của Đức Kitô đi vào trong vinh quang Thiên Chúa. 

Thử nhìn lại biến cố lịch sử mà coi: chứng cứ đầu tiên là một chứng cứ gián tiếp: Mồ trống. Tự nó, sự kiện này không phải là một bằng chứng trực tiếp. Việc thân xác không còn trong mộ có thể giải thích cách khác [1]. Cả bốn cuốn Tin Mừng đều ghi lại sự kiện chị em phụ nữ ra mồ Chúa vào sang sớm ngày thứ nhất trong tuần. Luca nói chung chung là các bà, Matthêu nói hai bà Maria, Marcô nêu rõ ba bà, trong khi Gioan chỉ nhấn mạnh đến một mình Maria Magdala [2]. Điều chắc chắn là các bà đều tin chắc: Thầy Giêsu đã chết thật rồi. Nếu không, mấy bà đâu cần phải mang theo thuốc thơm để ướp xác. Thêm vào đó, làm sao cắt nghĩa được "vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai,vì sợ quá!" [3]? Phải chăng các bà chưa thể tin được, nếu không muốn nói là KHÔNG THỂ tin được. Thái độ của Maria Magdala là một minh họa rất hùng hồn: sau khi gọi được Phêrô và Gioan, Maria cũng theo đến và loay hoay ở bên ngôi mộ trống. Maria chỉ nhận ra Thầy khi được gọi tên (thuật ngữ Kinh Thánh nói lên việc trao ban sứ mạng), vì chị đã dành trọn tâm hồn cho việc viếng xác Thầy. Phêrô và Gioan cùng chạy đến ngôi mộ trống. Cả hai đều "thấy", Gioan "thấy và ông đã tin". Không thấy nói đến thái độ của Phêrô. Rồi sau đó Chúa hiện ra cùng nhóm Mười Hai [4], rồi hai môn đệ trên đường Emmaus, rồi Tôma.

Từ các sự kiện, có thể rút ra kết luận: đức tin của các môn đệ đã bị thử thách triệt để do việc Khổ Nạn đã được báo trước [5]. Cuộc khổ nạn này đã làm các môn đệ hoảng hốt đến nỗi họ (ít ra là một số không nhỏ) không tin ngay việc Sống Lại. Các sách Tin Mừng không hề nói đến một cộng đoàn cuồng nhiệt trong hứng khởi thần bí, nhưng cho thấy các môn đệ bộ mặt ảo não (Lc 24:17) và sợ hãi (Ga 20:19). Họ không tin lời các phụ nữ đạo đức viếng mộ trở về, nhưng "cho là chuyện nhảm nhí" [6], đến đỗi Chúa Giêsu phải "quở mắng sự cứng tin, lòng chai đá của các ông" [7]. Thậm chí, đối diện với Đức Kitô Phục Sinh, các môn đệ vẫn còn nghi ngờ [8], vì không tin rằng điều này có thể xảy ra được, nên họ tưởng trông thấy ma [9]. Và cho đến khi Đức Giêsu hiện ra lần cuối cùng tại Galilê, theo thánh Matthêu, "có mấy người vẫn còn hoài nghi" [10]. Do đó, giả thuyết cho rằng Phục Sinh là "sản phẩm" của Đức Tin (hoặc do nhẹ dạ) của các tông đồ, không đứng vững. Trái lại, dưới tác động của ơn thánh, các ông đã tin vào cuộc Phục Sinh vì có kinh nghiệm trực tiếp về Đức Kitô Phục Sinh. Do đó, hiểu được tại sao một TIN VUI như vậy, lại được đón nhận hết sức ngỡ ngàng và dè dặt.

MỘT CHÚT ĐỔI ĐỜI

Mầu nhiệm của tôn giáo không phải để "biết", nhưng để "tin" và nhờ tin mà được "sống". Tôi tự hỏi mình xem thực sự mình đã "biết" về Mầu nhiệm Phục sinh được bao nhiêu. Trên hết mọi sự, Phục Sinh là bảo chứng cho tất cả những gì chính Đức Kitô đã làm và đã dậy. Với quyền năng Phục Sinh, Đức Kitô chứng tỏ Người có thẩm quyền của một vị Thiên Chúa, nên toàn thể các chân lý, kể cả những chân lý mà lý trí loài người khó chấp nhận, cũng đều đáng tin. Và dù thâm tín đã dám quả quyết: Nếu Đức Kitô không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và đức tin của anh em cũng là hư không (Xem 1Cor 15:14), Thánh Phaolô phải chân nhận cái hạn hẹp của thân phận con người: "Bây giờ chúng ta xem thấy lờ mờ như trong gương, mai sau sẽ được xem thấy nhãn tiền. Bây giờ tôi chỉ hiểu biết được một phần; mai sau, tôi sẽ hiểu biết hoàn toàn" [11]. Nếu Đức Kitô không sống lại, thì Niềm Tin của tôi là hão huyền. Nhưng nếu Đức Kitô sống lại, mà tôi không sống lại cùng với Đức Kitô, thì có thể gọi là tôi có Đức Tin không??? Thế nên, điều cần hơn đối với tôi, là luôn luôn phải hỏi mình: Hiệu quả của Mầu nhiệm Phục Sinh đối với đời tôi như thế nào? Hay nói cách khác, tôi đã sống lại cùng với Đức Kitô như thế nào?

Riêng tôi, ngày xưa - nghe như xa xôi lắm vậy - từ lúc đi tu cho đến năm là một thầy giúp xứ, được huấn luyện và cũng tự luyện để có đôi mắt chỉ biết nhìn thẳng, không liếc ngang liếc dọc; đôi tay chắp lại nghiêm trang (chúng thường chế nhạo là "chắp tay lỗ mũi"); và đôi môi đơn sơ chỉ biết mở ra để đọc kinh thôi, chẳng biết cười. Nói tóm lại, cần phải là một con người đạo mạo nghiêm trang đáng kính (và dĩ nhiên là cách biệt nữa). Hậu quả là thằng bé bị đau bao tử. đau bao tử cấp tính và bác sĩ quyết định là phải phẫu thuật nữa chứ. Anh chị em nhớ lại thập niên 70, những tháng ngày ngay sau biến cố 75, nền y-học của nước mình nó èo uột thê lương nghĩ đến bắt rùng mình. Được lệnh "đi mổ", là được lệnh làm một cuộc viễn du one-way ticket, huống chi mình thuộc cái diện "cố", không bịnh mổ cũng "toi" huống hồ chi ...... Nhưng phải chữa bịnh chứ. Sau khi đắn đo bàn hỏi, suy nghĩ và cầu nguyện, tôi mạnh dạn đến trình bề trên xin nghỉ một năm để tìm thầy chạy thuốc. Cuối cùng tìm được phương pháp tuyệt thực và ăn gạo lức muối mè. 

Điều mà tôi luôn tạ ơn Chúa, đây là thời gian thuận tiện Chúa thương ban, để có dịp nhìn lại đời mình kỹ lưỡng hơn, để có dịp xét lại động lực và định hướng đi cụ thể cho cuộc đời. Từ đó, tôi thêm một lần thâm tín rằng: Chúa đã thương yêu và chọn gọi tôi - cũng như từng người - một cách đặc thù và cụ thể, không ai giống ai. Ơn gọi của mỗi người phải là ơn gọi làm-chứng-cho-Thiên-Chúa-Tình-Yêu trong mọi môi trường riêng biệt của mình. Cố gắng hết sức trong hoàn cảnh cụ thể sẽ làm cho đời mình có ý nghĩa. Và mầu nhiệm được trao ban chính là Mầu Nhiệm Phục Sinh. Nếu không sống niềm tin Phục Sinh, thì chắc chắn chẳng có Tin Mừng được viết lại - Từ cảm nghiệm Phục Sinh, các Tông đồ mới sống, mới rao giảng, dùng đời mình để minh chứng... Các cộng đoàn tiên khởi bảo tồn và ghi chép và niềm tin cách nào đó được chuyển giao cho từng người.
Khi thấy được rằng mình đã được trao ban quá nhiều, mà đáp đền chẳng được bao nhiêu, tôi mới thấy mình quá dại (Có muộn quá không?). Vui cũng phải sống, buồn cũng phải sống, tại sao mình ngu quá, cứ khoái mang cái "mặt đưa đám" làm khổ mình khổ người, trong khi đáng lẽ ra mình phải mang lại Niềm Vui Phục Sinh. Phải đổi thay thôi.

Nghĩ rằng mình là con người, nên cần có cái gì cụ thể, nên ngay sau khi trở lại Chủng viện, việc đầu tiên là tôi kiếm cho mình một ........ cái đầu Ông địa. Hì hì, nghĩ cũng vui, mỗi khi nghỉ ngơi, từng lúc giật mình tỉnh giấc, nhìn Ông địa để tự nhắc nhở mình cần trân trọng niềm vui. Rồi bắt đầu một cuộc kiên trì tập luyện: Một cách tiêu cực, tôi cố triệt tiêu những từ ngữ "hận", "ghét" và những từ đồng nghĩa trong tự điển cuộc đời mình. Và hệ luận rõ rang là phải tập "quên". Ôi chao ơi, sao đời mình thanh thản thế. 

Nhưng chưa đủ, tôi còn phải cố gắng tập "nở nụ cười". Mới thấy có vẻ đơn giản, nhưng quả là "cực trần ai". Có thể nhếch mép, nhe răng nhưng chưa hẳn đã là "cười". Có thể "tươi nở nụ cười" nhưng trong lòng là "cả một trời cay đắng". Như thế cần cười ngoài miệng, nhưng thực sự phải cười được từ trong tâm hồn. Không làm sao khác hơn là phải tập luyện từng phút từng giây. Từ đó, tôi cảm nghiệm rằng, mọi biến cố xảy đến trong đời đều không nhiều thì ít, có mặt phải lẫn mặt trái, có điều lợi cũng như điều hại, có chuyện buồn xen lẫn chuyện vui. Thế tại sao mình lại không chọn mặt tích cực?...

KẾT

Quý Anh Chị thử nghĩ mà coi: Thí dụ điển hình là việc tham dự Thánh Lễ, cao điểm để sống Niềm Vui Phục Sinh, mà gặp mặt nhau nhiều khi với tâm hồn không mấy vui: "À, hôm trước hắn có chơi xấu tôi" ...... Được mời gọi chúc bình an cho nhau: "Bình an thế nào được, khi vừa mới rồi còn giành nhau thiếu điều đánh nhau để có được một chỗ đậu xe thoải mái hơn, chen lấn nhau chí chết để có được một chỗ dự Lễ "cho sốt sắng" (!) hay một chỗ xưng tội cho lẹ làng".

Bao nhiêu hoàn cảnh cụ thể trong đời mỗi người: Tôi có chồng, có vợ không mấy vui, tôi có mẹ có cha chẳng mấy cởi mở, tôi có con cái chẳng dễ nghe lời, tôi có chị có anh em đôi khi không dễ nhường nhịn tôi có cả "một trời tâm sự chẳng biết chia sớt cùng ai" ...... Nhưng tôi có cả một đời để sống cho có ý nghĩa. Buồn, Vui, Sướng, Khổ Tôi chấp nhận hay tôi đón nhận?..
Để kết thúc, tôi xin "đính kèm" bài hát mà mình thích, như một món quà nho nhỏ tặng lại anh chị em mình.

Tài liệu tham khảo:
1. xem ga 20:13. Mt 28:11-15.
2. Mt 28:1. Mc 6:1. Lc 24:1. Ga: 20:1 
3. Mc 16. 7-8
4. 1 cor 15:5
5. Lc 22: 31-32
6. Lc 24:11. Mc 16: 11-13
7. Mc 16:14
8. Lc 24: 38
9. Lc 24: 39
10. Mt 28: 17
11. 1 Cor 13: 12