QUÊ HƯƠNG! NGÀY VỀ

Vân Đỳnh

Quê hương! Những hình ảnh luôn hiện diện trong tâm trí tôi mọi nơi mọi lúc và có lẽ sẽ theo tôi đến tận ngày xuôi tay nhắm mắt. Quê hương! Ngôi làng nhỏ và nghèo của ngày thơ bé, nằm gối đầu lên đùi cha ở sân gạch trong những buổi tối sáng trăng rồi ngủ thiếp đi, đến sáng thức giấc thì đã thấy mình nằm trên giường. Những ngày dắt bò đi theo những anh chị lớn trong làng để họ trông coi hộ. Những ngày Chủ Nhật đi lễ bằng chiếc áo chùng đen vá chằng vá đụp và đã qua nhiều anh chị. Những buổi tối cùng các bạn đồng trang lứa đến nhà xứ học kinh để chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu bằng cách học truyền khẩu, vì chưa được đi học nên không biết chữ, bởi ông Thầy Xứ già hay làm thơ làm vè, cho đến bây giờ đã hơn 50 năm năm, một số những bài văn vần ấy tôi vẫn còn thuộc. 

Quê hương! Tuổi mới lớn khi biết mơ biết mộng, tập tễnh làm thơ và vời trông áo tiểu thơ, từ ngã năm Chợ Lớn, đạp xe đến tận Sở Thú để nhìn ngắm tà áo trắng của Trưng Vương hay qua Phan Thanh Giản theo sau những eo thon của Gia Long. 
Quê hương! Tôi đã lớn lên trong cuộc chiến, đã đi vào cuộc chiến, đã " khóc cười theo mệnh nước nổi trôi", hiến cả tuổi trẻ và một chút máu mình để gìn giữ.

Ngày bước chân ra đi, tôi đã cố ghi khắc trong tâm trí hình ảnh những nơi mình đi qua, làm như mình sẽ không bao giờ gặp nữa vậy. Nơi đất khách quê người, nghe rất nhiều tin về sự đổi thay của quê hương tốt cũng lắm và xấu cũng nhiều. Theo luật tuần hoàn và nhất là theo xu hướng của thời đại thì chắc chắn phải thay đổi rồi nhưng thay đổi như thế nào mới là điều phải quan tâm. 
Mấy dòng tâm sự sau đây chỉ là những cảm nhậm chủ quan của cá nhân tôi về những gì tôi đã gặp tuy nhiên không có điều kiện đi vào chiều sâu, vì thế đây chỉ là một vài nét chấm phá nhỏ nhoi và có phần phiến diện hy vọng có dịp nào đó được chia sẻ nhiều hơn.
Hơn mười mấy năm xa cách, Sài Gòn đón tôi bằng cái nóng hầm hập dù đó hơn sáu giờ chiều và trời đang chập choạng vào tối, tiếp sau đó là những dòng xe cộ đủ loại chạy hỗn loạn len lỏi,đủ chiều như cài răng lược với những tiếng còi inh ỏi, tiếng máy xe gầm rú, khói xe mù mịt, có nhiều người mang khẩu trang. Ngồi trong xe tôi có cảm tưởng như xe mình bị đẩy đi như con thuyền tự trôi theo dòng nước. Sài Gòn đón tôi nhiệt tình quá, khiến tôi ngồi trong xe mà cảm thấy lạnh mình.

Quê hương thay đổi, thay đổ thật nhiều. Nhà nhà xây cất, con đường nào cũng là chợ dù là con hẻm sâu hút. Nhà thờ giáo xứ cũ của tôi xưa kia cũng thay đổi nhiều tuy vẫn ngôi tháp chuông ấy, vẫn ngôi nhà ấy nhưng dù khuôn viên đã vốn chật chội cũng cố xây thêm hàng rào ở cuối sân, tôi có cảm tưởng ngôi Nhà Chúa tù túng làm sao ấy! Bên trong nhà thờ thì thật sự thay đổi hoàn toàn, với những trang trí thật tốn nhiều tiền và có vẻ diêm dúa tôi có cảm tưởng như mình vào một rạp hát cải lương nào đó, tôi không thể nâng lòng lên với Chúa vì những ngoại cảnh đó. Sau này tôi có đi thăm vài ngôi nhà thờ nữa cũng có chung những đổi mới tương tự. 
Có một ngôi nhà thờ tương đối cổ, hồi tôi còn ở nhà, ngôi nhà thờ nằm trong một khuôn viên rộng lớn, thoáng mát yên tĩnh, bên cạnh đấy là Tĩnh Tâm Viện. Nay tôi về thăm lại ngôi Thánh Đường. Nếu là người chưa biết ngôi Thánh Đường ấy và không biết đường, thì khi đi qua không ai biết có ngôi Thánh Đường đó. Ngay cổng vào nhà thờ, bên phía trái là Tĩnh Tâm Viện đã bị nhà nước trưng dụng làm trường Mẫu Giáo, phía ngoài tường bên cạnh cổng Nhà Thờ người ta làm quán bán báo, đồ ăn. Bên phải cổng Nhà Thờ là ngôi nhà bốn từng lầu bề thế của nhà sách ảnh tượng Công Giáo. Những công trình ấy che hết tâm mắt những người đi qua. Từ cổng nhà thờ đi vào vài chục mét bên tay trái là núi Đức Mẹ Lộ Đức, bên phải là nhà thờ và gác chuông. Trên đoạn đường vài chục mét này, bên trái là tường giáp ranh với Tĩnh Tâm Viện cũ, là bẩy bức phù điêu diễn tả Bẩy Bí Tích. Núi đá Đức Mẹ, ngày xưa ở trên cao là một hang nhỏ nơi Đức Mẹ ngự và bên dưới là một hang lớn đặt bàn thờ thì vẫn như cũ, nhưng trong sân bây giờ đặt rất nhiều tượng, nào là tương Chúa đang cầu nguyện trong vườn cây dầu, tượng Chúa được tháo đanh xuống nằm trong tau Đức Me, tượng Chúa đang nói chuyện hay dậy dỗ gì đó với một đứa trẻ, tượng thánh Tự Đạo Việt Nam, tượng thánh Giu Se. Đầu nhà thờ có đài Đức Mẹ La Vang với nhiều ghế đá san sát, dưới bóng mát của những tàn cây. Bên phải đầu nhà thờ là một sân tròn rất rộng, xây cất tượng 14 Đàng Thánh Giá rất lớn và nhiều Thiên Thần cũng to lớn như vậy. Tường bên ngoài nhà thờ, ngày xưa được quét vôi vàng, bây giờ từ bệ cửa sổ xuống tới đất, người ta tô đá rửa mầu xám ( có lẽ để cho sạch đỡ phải quét vôi lại ). Trong nhà thờ, bàn thờ cổ ngày xưa đã được thay thế bằng một kiến trúc hoành tráng chiếm hết bức tường đầu nhà thờ diễn tả ơn Chúa Thánh Thần, gian Cung Thánh cũng được sơn phết lại, những đổi mới này không hơp với kiến trúc cổ của ngôi Thánh Đường, Với quá nhiều bức tượng và những thay đổi không đồng bộ như nói ở trên, cỏ vẻ như muốn phô trương làm cho lòng người tín hữu bị chia trí nhiều hơn, vì không biết cầu nguyện với Đức Mẹ nào, với thánh nào. 

Ngược lại trên đường xuống Cà Mâu thăm viếng mộ Cha Bửu Diệp, tôi thấy có ngôi nhà tranh lớn, vách thì tan hoang, tôi đoán có lẽ đó là nhà thờ vì có cây Thánh Giá trên nóc cuối ngôi nhà đó. Hình ảnh này tôi cũng lại thấy giống như vậy khi ngồi trong đò máy chạy vào động Phong Nha ở Quảng Bình.

Khi ra đi tôi chỉ là một chú bé vừa mới xưng tội rước lễ lẫn đầu và lãnh Phép Thêm Sức vội vã bởi Cha Chính Địa Phận trong tình hình tranh tối tranh sáng của đất nước với hiệp định chia đôi đất nước ngày 20/7/ 1954, sau gần năm mươi năm, nay trở lại lòng tôi bồi hồi khi từ xa nhìn thấy ngôi tháp nhà thò mờ mờ trong sương sớm . Đến đầu làng, tôi xuống xe đi bộ. Cây đa đầu làng vẫn còn nhưng giếng nước bên cạnh thì không còn nữa, vẫn cái cầu đá nhỏ trước khi vào đường làng, cảnh vật đã thay đổi những con đường vẫn còn đó, nhưng không còn bằng đất ghồ ghề, trời mưa hay trơn truợt mà bằng xi măng bằng phẳng khô ráo, những thổ cư vẫn còn đó nhưng những nhà tranh vách đất không còn nữa mà là những nhà tường lợp ngói. Tôi vẫn còn nhận ra nhiều vị trí những những căn nhà cũ đã thay chủ từ lâu, những ao hồ, vườn tược, thổ cư ngày xưa tôi thấy nó to lớn, nay gặp lại sao thấy nó nhỏ bé chật hẹp. Vào thăm nhà thờ gặp người coi sóc nhà thờ, tôi xưng tên và anh nhận ra tôi ngay, anh kể ngày dân làng bỏ ra đi chỉ còn sáu gia đình ở lại, họ đã can đảm vượt rất nhiều khó khăn cả về tinh thần cũng như vật chất cố gắng giữ vững ngôi thánh đường được xây dựng từ năm 1932, họ đã tự nung lấy gạch xây hơn ba trăm mét tường bao quanh nhà xứ và nhà thờ để bảo vệ những cơ sở này, nếu không đã bị chiếm hữu từ lâu. Đã vậy họ lại còn xây lại ngôi tháp của nhà thờ mới xong năm ngoái. Họ thật là những người không những chỉ can đảm, có đức tin kiên cường mà còn giỏi nữa. Ghế trong nhà thờ không còn bao nhiêu, cái thì lung lay sắp gẫy, đặc biệt ở một phòng bên cánh trái nhà thờ có một cỗ kiệu còn nguyên trạm trổ rất tinh vi và đẹp, tuy nhiên lâu ngày không được dùng tới hay sơn phết lại nên lem luốc cũ kỹ. Đối diện với những cảnh xưa mà người cũ thì phân tán không phải chỉ bốn mà là chín mười phương trời. Thời thơ ấu của tôi lại hiện về một cách rõ ràng hơn lúc nào hết, tôi bùi ngùi nghĩ đến những lớp người đã nối tiếp nhau hiện diện ở cái làng bé nhỏ nghèo nàn này, nghĩ đến những ý chí quật cường của sáu gia đình ở lại, đến sự thờ ơ của những người ra đi trong đó có tôi, nghĩ đến những ngôi thánh đường có thể nói là diêm dúa ở miền nam với những ngôi thánh đường nghèo nàn đổ nát này của quê tôi và những thánh đường miền quê khác mà tôi thấy trên đường. Tôi trộm nghĩ cái bát nháo của xã hội đương thời nó cũng ảnh hưởng lên Giáo Hội mình hay sao ? 

Quê hương! Còn nhiều cái bất cập đến nhói con tim, vì sao? vì ai ? Tuy vậy ở trong đó tôi còn thầy tiềm tàng rất nhiều sức sống, như những hạt giống nằm im trong đất, chỉ chờ những cơn mưa rào là nó sẽ nẩy mầm vươn lên và sức sống sẽ rất mãnh liệt.