|
CHỨNG NHÂNCHO CHÚA KITÔ PHỤC SINH |
||
|
Đức Ông Phaolô Nguyễn Minh-Tâm
|
||
|
Anh chị em
Cursillistas thân mến, hi nói đến lễ
trọng trong Giáo Hội, ta có cảm tưởng rằng lễ Giáng Sinh là quan trọng nhất. Tuy
nhiên, ngày lễ quan trọng nhất phải là ngày Phục Sinh, v́ phục sinh là nền tảng
của đức tin Kitô hữu. Biến cố phục sinh đem lại niềm vui, hy vọng và đức tin cho
các tín hữu tiên khởi. V́ thế cốt lơi của việc rao giảng Tin Mừng là loan báo về
Chúa Phục Sinh. Từ thời Giáo
Hội tiên khởi cho đến nay, Giáo Hội không ngừng rao giảng Tin Mừng Phục Sinh và
sinh hoạt của Giáo Hội đặt căn bản trên sứ mạng làm chứng cho Chúa Kitô Phục
Sinh. Là phần tử của Giáo Hội và là môn đệ của Thầy Chí Thánh, người Cursillista
có trách nhiệm làm chứng cho Ngài trong môi trường sống của ḿnh. Nhưng làm sao
để làm chứng cho Đấng Phục Sinh? Điểm đầu tiên
của sứ điệp Phục Sinh là hy vọng. Người Cursillista cần biểu lộ niềm hy vọng của
ḿnh vào Chúa và tha nhân. Đối với Chúa, ta cần xác tín rằng Chúa không bao giờ
bỏ rơi con cái Ngài. Ngài hiện diện trong mọi hoàn cảnh để chăm sóc ta. Nếu Chúa
đă không để Con Một Ngài bị vùi dập trong cơi chết, th́ Ngài cũng ra tay từ bi
cứu vớt ta trên đường đời. Liên quan đến niềm hy vọng vào Chúa, ta cần hy vọng
đối với tha nhân. Mỗi một người đều có điểm tốt, nên ta cần nh́n vào điểm tốt
của họ để vui mừng, khen ngợi và tín nhiệm. Nếu họ có khiếm khuyết hay thất bại,
ta cần biết rằng họ vẫn có cơ hội để thay đổi và vươn lên. Ta cần cho họ cơ hội
để làm lại con người. Như thế niềm hy vọng vào Chúa và tha nhân là một phương
cách làm chứng nhân cho Chúa Phục Sinh. Việc làm chứng
nhân cho Chúa Phục Sinh không thể là chuyện riêng rẽ, cá nhân nhưng là trách
nhiệm tập thể. Người Cursillista cần liên kết với các anh chị em khác để cùng
nhau hành động. Khi liên kết như thế, ta tŕnh bày cho thế giới biết rằng ta là
môn đệ của Chúa Giêsu, Thầy Chí Thánh, và Chúa của yêu thương. Chính Chúa đă
nói: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có
ḷng yêu thương nhau” (Ga13:35). Việc liên kết với nhau đ̣i hỏi tinh thần khiêm
nhường, lắng nghe và tế nhị trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Có như thế ta
mới có sức mạnh để thăng tiến và phục vụ. Đồng thời ta trở nên chỗ nương tựa cho
người yếu đuối. Không ai dựa vào kẻ yếu nhược hay tập thể suy đồi. Người ta chỉ
t́m kẻ mạnh mà nương tựa. Chính ta cũng t́m kẻ mạnh nhất để đặt niềm hy vọng. Kẻ
mạnh nhất chính là Chúa. Do đó Cursillista dựa vào nhau và dựa vào Chúa để làm
chứng nhân Phục Sinh. Chứng nhân phục
sinh đ̣i hỏi người Cursillista có tinh thần tự hủy. Chúa nói: “Nếu hạt lúa gieo
vào ḷng đất mà không chết đi, th́ nó vẫn trơ trọi một ḿnh; c̣n nếu chết đi, nó
mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga12:24). Người Cursillista cần có tinh thần tự
hủy, tức là chết đi đối với các tính xấu của ḿnh để vươn lên. Trên căn bản tự
hủy, người Cursillista từ bỏ ư ḿnh để chọn ư Chúa. Hay nói cách khác, ta lấy ư
Chúa làm ư ḿnh. Đối với tha nhân ta cần ḥa hợp ư ḿnh với ư tha nhân trong các
quyết định và hành động chung, miễn là ư tha nhân hợp với ư Chúa và phù hợp với
lương tâm đúng đắn. Sống chứng nhân
Phục Sinh là cổ xúy và làm phát triển sự sống trong tinh thần lạc quan, hy vọng
và phó thác. Cầu chúc anh chị em có tinh thần lạc quan, tập thể, và tự hủy để
sống cho Đấng Phục Sinh và trở nên sức sống cho thế giới chung quanh.
Đức Ông Phaolô Nguyễn Minh-Tâm 31/ 3/ 2009 | ||
|
|
|