|
LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO |
||
|
LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO được chuyển dịch từ cuốn "The Compact History of the Catholic Church" của Aland Schreck, giáo sư thần học của Đại Học Steubenville thuộc ḍng Phanxicô ở Ohio. Tài liệu này được trích đăng trong www.nguoitinhuu.com
Chương 3
GIÁO HỘI THỜI TRUNG CỔ (600 - 1300)
|
|
Thế Kỷ Thứ Chín
Ngay từ đầu thế kỷ thứ chín dường như đă có nhiều triển
vọng cho Kitô Giáo Tây Phương. Charlemagne áp đặt đức tin trên các người bị đô
hộ ở miền bắc và miền trung Âu Châu, dần dà dân chúng yêu quư Kitô Giáo và từ bỏ
những hủ tục của quá khứ ngoại giáo. Các giáo hoàng cũng gia tăng ảnh hưởng, và
sau khi Charlemagne từ trần, con của ông là Louis de Pious, công bố rằng quyền
bính của vua th́ tùy thuộc đức giáo hoàng. Con của Louis là Lothar được tấn
phong ở Rôma năm 823, và sau đó tất cả các nhà cầm quyền của Đế Quốc La Mă Thánh
Thiện đều được tấn phong ở Rôma. Đức Giáo Hoàng Nicôla I (858-67), vị giáo hoàng
thế lực nhất thế kỷ, tuyên bố rằng nhiệm vụ của hoàng đế là bảo vệ Giáo Hội Công
Giáo Rôma chứ không phải cai trị giáo hội. Không may, thế lực của hoàng đế suy
yếu dần v́ các khó khăn nội bộ và v́ sự xâm lăng của người Viking từ phương bắc,
người Hungari từ phương đông, và người Hồi Giáo Saracen từ phương nam. Sự hiệp
nhất và nền ḥa b́nh của đế quốc rộng lớn mà Đại Đế Charles khổ công xây dựng đă
bắt đầu tan ră, và Âu Châu đắm ch́m trong thời kỳ phong kiến -- lục địa bị phân
chia thành các nước nhỏ bé tranh giành nhau để sống c̣n và chém giết lẫn nhau.
Sự suy tàn của Đế Quốc Tây Phương kéo theo sự tàn tạ của
Giáo Hội Tây Phương. Sau Đức Nicôla I, không c̣n giáo hoàng nào đủ mạnh để dẫn
dắt Giáo Hội trong t́nh thế này. Trong khoảng thời gian từ 858 đến 879, cuộc ly
giáo, hay cắt đứt quan hệ, đă xảy ra giữa các giáo hoàng và các thượng phụ của
Constantinople. Lư do là v́ một tham vọng đất đai của Đức Giáo Hoàng Nicôla I và
sau đó Đức Thượng Phụ Photius cáo buộc rằng Giáo Hội Công Giáo Rôma không phải
là giáo hội chính thống v́ dùng chữ filioque trong kinh Tin Kính, v́ duy tŕ tín
điều về luyện ngục, và các cáo buộc sai lầm khác. May mắn thay, Đức Photius đă
rút lại các cáo buộc này; ngài đă ḥa giải với vị tân giáo hoàng, và trong thế
kỷ thứ mười, đă có sự b́nh an tương đối giữa hai Giáo Hội Tây Phương và Đông
Phương. Tuy nhiên, các vấn đề căn bản không bao giờ được giải quyết, và cuộc đại
ly giáo giữa Đông và Tây bắt đầu vào năm 1054 là hậu quả buồn thảm của thế kỷ
này.
Vào cuối thế kỷ thứ chín, Hồi Giáo bắt đầu đàn áp Giáo Hội
Đông Phương, và sự bất ổn chính trị cũng như sự nhu nhược của các giáo hoàng đă
bóp nghẹt Giáo Hội Tây Phương. Giáo sĩ bị kiểm soát bởi nhà cầm quyền thế tục và
rơi vào t́nh trạng thất học cũng như không trung thành với lời thề sống độc
thân. Hầu hết các đan viện cũng mất tinh thần đạo đức, trở nên thối nát và xu
thời. Sự suy sụp của xă hội Tây Phương và sự tàn tạ của Giáo Hội xảy ra song
song, v́ cả hai liên hệ với nhau trong quá nhiều lănh vực.
Tuy nhiên, ngay cả lúc đầy khuyết điểm, Thiên Chúa vẫn
tiếp tục hoạt động trong Giáo Hội. Vào cuối thế kỷ thứ chín, hai đan sĩ,
Methodius và Cyril, bắt đầu công cuộc truyền giáo cho người Khazar và người Slav
ở Đông Âu. Không những các ngài đem lại đức tin Kitô Giáo cho người dân mà Thánh
Cyril c̣n sáng tác mẫu tự Slavonic để đem lại cho dân tộc này một ngôn ngữ mới
và là một phương tiện mới cho nền văn hóa của họ.
Thế Kỷ Thứ Mười
Một sự thật đáng tiếc là đôi khi t́nh trạng tinh thần của
Giáo Hội cũng không khác ǵ hơn t́nh trạng tinh thần của xă hội nói chung. Điều
này rất đúng với thế kỷ thứ mười. Trong sáu mươi năm đầu, chức giáo hoàng bị
kiểm soát bởi các nhà quư tộc Rôma, là những người không xứng đáng với chức vụ
cao trọng này. Tệ hại nhất trong tất cả, Đức Giáo Hoàng Gioan XII (955-64) quá
thối nát đến độ Thiên Chúa phải giải thoát Giáo Hội Công Giáo của Người qua tay
nhà cầm quyền thế tục, là Otto I (Đại Đế), là Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện đầu tiên
của nước Đức. Otto và các người kế vị muốn dùng Giáo Hội Công Giáo như một công
cụ giúp phục hồi trật tự trong đế quốc.
Phương cách "giáo dân tấn phong giáo sĩ" -- các hoàng đế
lựa chọn các giám mục và ngay cả các giáo hoàng -- là một trong những phương
cách chính để kiểm soát Giáo Hội. Nhờ ḷng thương xót của Thiên Chúa, các giáo
hoàng được tuyển chọn bởi các hoàng đế Đức lại là những người có phẩm hạnh cao,
nhất là Đức Giáo Hoàng Sylvester II (999-1003). Kết quả là Giáo Hội Tây Phương
bắt đầu hồi sinh.
Yếu tố then chốt trong sự canh tân Giáo Hội vào thời điểm
này là sự canh tân đời sống đan viện, được khởi sự bằng việc sáng lập một đan
viện mới, tên Cluny ở Pháp vào năm 910. Đan viện này thuộc ḍng Bênêđíctô đặt
riêng một số đan sĩ chỉ để cầu nguyện, và mọi người phải giữ im lặng, ngoại trừ
khi đọc kinh Nhật Tụng. Các đan sĩ tự bầu lấy đan viện trưởng và chỉ chịu trách
nhiệm với đức giáo hoàng, bởi đó không có sự kiểm soát của giáo dân. Tổ chức đan
viện này quá hữu hiệu đến độ nhiều giám mục và thái tử đă mời đan viện Cluny
thành lập các chi nhánh trong các giáo phận của họ (ở Ḥa Lan, Ư, Tây Ban Nha,
Anh và Đức). Hệ thống ḍng tu đầu tiên được bắt đầu, và vào năm 1100 đă có đến
1,500 chi nhánh. Sự canh tân của đan viện Cluny đưa đến sự cải tổ của các đan
viện khác cũng như việc thành lập các hệ thống đan viện mới, tỉ như Ḍng
Camaldolese của Thánh Rômuanđô và Ḍng Carthusian của Thánh Brunô. Ngọn lửa
thánh thiện này đă canh tân Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ mười một khi các đan
sĩ được mời làm giám mục trông coi các địa phận đang sẵn sàng cải tổ. Các chi
nhánh của Cluny, do chính đức giáo hoàng điều khiển, trở nên một phương cách để
đức giáo hoàng phục hồi tinh thần và quyền bính. Các vị giáo hoàng vĩ đại của
hai thế kỷ tới -- Đức Grêgôriô VII, Đức Urbanô II, và Đức Paschal II -- trước
đây đều là các đan sĩ của Cluny.
Thế Kỷ Mười Một
Các hoàng đế Đức của Đế Quốc Otto tiếp tục kiểm soát Giáo
Hội Tây Phương trong thế kỷ mười một, nhưng việc đề cử các giáo hoàng tương lai
cũng như sự hỗ trợ của họ đă có một ảnh hưởng bất ngờ. Các giáo hoàng và các
hồng y bắt đầu nhận thức rằng, chủ quyền đất đai cũng như việc tuyển chọn các
giáo hoàng và giám mục của các hoàng đế và nhà cầm quyền thế tục là một vi phạm
đến sự tự do của Giáo Hội. Các ngài tin rằng ngay cả các hoàng đế cũng phải phục
tùng quyền bính thiêng liêng của phẩm trật Công Giáo.
Điều này rất đúng trên lư thuyết, nhưng không một giáo
hoàng nào đủ mạnh và can đảm để đem ra thực hành, măi cho đến năm 1073, khi Đức
Hồng Y Hildebrand được chọn làm giáo hoàng, lấy tên là Grêgôriô VII. Với tính
khí nóng nẩy và niềm tin của một ngôn sứ thời Cựu Ước, trong sắc lệnh nổi tiếng
của ngài (Dictatus papae, 1075), Đức Grêgôriô tuyên bố: đức giáo hoàng đă được
Đức Kitô ban cho quyền tối cao qua Thánh Phêrô. Đức giáo hoàng có quyền tổng
quát trong Giáo Hội và cũng có quyền truất phế các hoàng đế, hoặc thay đổi các
luật lệ nào mâu thuẫn với luật lệ của Thiên Chúa hay quyền bính của Giáo Hội.
Nhất là, Đức Grêgôriô đă dùng thẩm quyền của ngài để cải tổ Giáo Hội Công Giáo,
mà lúc bấy giờ rất cần canh tân ở mọi tầng lớp. Đức Grêgôriô VII chứng tỏ rằng,
với sự trợ giúp của Thiên Chúa, một giáo hoàng có thể canh tân Giáo Hội Công
Giáo. Ngài nhấn mạnh rằng các linh mục phải trung thành với lời khấn độc thân và
tẩy chay mọi h́nh thức buôn thần bán thánh, nhận tiền bạc để thi hành mục vụ.
Khi các nhà cầm quyền và các giám mục, v́ quyền lợi riêng tư, do dự thi hành sắc
lệnh này, Đức Grêgôriô đă gửi các đại diện của ngài đến tận nơi, sẵn sàng ra vạ
tuyệt thông những ai từ chối không chịu cải tổ. Quyền bính của Đức Grêgôriô VII
được tỏ rơ khi ngài ra vạ tuyệt thông Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện là Henry IV v́
không tán thành sự canh tân của Giáo Hội. Henry đă phải quỳ trên tuyết ở Canossa
để xin đức giáo hoàng tha thứ, và đă được ban cho. Thật trớ trêu, việc tha thứ
Henry IV đă làm các thái tử Đức xa lánh, và dẫn đến việc lưu đầy của Đức
Grêgôriô và cái chết của ngài năm 1085. Từ nơi lưu đầy, Đức Grêgôriô viết: "Kể
từ khi Giáo Hội đặt tôi lên ngai tông đồ, tất cả những ǵ tôi mong muốn cũng như
cùng đích mọi cố gắng của tôi là Giáo Hội Thánh Thiện... phải phục hồi vinh dự
và được tự do, trong sạch và Công Giáo". Công việc của Đức Grêgôriô VII, được sự hỗ trợ của các đan viện, đă đẩy mạnh sự canh tân chính đáng của Giáo Hội Công Giáo và duy tŕ sự tự do của Giáo Hội khỏi sự kiểm soát của các nhà cầm quyền thế tục, là những người muốn lợi dụng Giáo Hội cho mục đích riêng tư của họ. Lư thuyết về quyền bính của đức giáo hoàng không có ǵ mới mẻ, nhưng lư thuyết ấy đă bênh vực và thi hành điều mà Giáo Hội Công Giáo tin tưởng từ bao thế kỷ về vai tṛ và quyền bính của đức giáo hoàng trong Giáo Hội và trong thế giới.
|