|
LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO |
||
|
LỊCH SỬ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO được chuyển dịch từ cuốn "The Compact History of the Catholic Church" của Aland Schreck, giáo sư thần học của Đại Học Steubenville thuộc ḍng Phanxicô ở Ohio. Tài liệu này được trích đăng trong www.nguoitinhuu.com
Chương 3
GIÁO HỘI THỜI TRUNG CỔ (600 - 1300)
|
|
Thế Kỷ Mười Một (tiếp theo)
Các vị giáo hoàng sau đây của thế kỷ, Đức Urbanô II
(1088-99) và Đức Paschal II (1099-1118), là những người thánh thiện, cương quyết
tiếp nối công việc cải tổ và canh tân. Đức Urbanô II kiên cường vai tṛ lănh đạo
của đức giáo hoàng qua việc triệu tập Công Đồng Clermont năm 1095 để thành lập
Thập Tự Quân lần thứ nhất, nhằm giải thoát các linh địa của Đông Phương khỏi sự
kiểm soát của người Hồi Giáo. Chắc chắn Đức Urbanô đă không nh́n thấy tương lai
của các cuộc thập tự chinh, ngài chỉ coi đó là một phương tiện thực tế để Giáo
Hội Tây Phương biểu lộ đức tin nơi uy quyền của Đức Kitô, và cũng để hỗ trợ Kitô
Hữu Đông Phương đang chịu đau khổ dưới các chế độ Hồi Giáo.
Thế kỷ mười một đánh dấu giây phút buồn thảm nhất của lịch sử Giáo Hội, là sự
tách biệt giữa Giáo Hội Đông Phương và Giáo Hội Tây Phương vào năm 1054. Sự chia
cách này chắc chắn đă đi ngược lại ư muốn của Thiên Chúa, là người đă sai Đức
Giêsu h́nh thành một dân tộc, một giáo hội. Vào thời điểm này, Kitô Giáo bị chia
cắt làm hai: Giáo Hội Công Giáo - công nhận đức giáo hoàng như vị thủ lănh ở thế
gian -- và Giáo Hội Chính Thống Giáo - do các thượng phụ lănh đạo, tỉ như đức
thượng phụ của Constantinople.
Điều ǵ đă gây nên cuộc ly giáo này? Các biến cố bề ngoài xảy ra ngay lúc đó chỉ
là triệu chứng của các khó khăn đă âm ỉ trong nhiều thế kỷ. Hầu hết các sử gia
đều cho rằng sự phân cách Đông và Tây về cả hai phương diện, giáo hội (quyền tối
thượng của đức giáo hoàng) và thần học (về vấn đề filioque). Trong các cuộc đối
thoại đại kết ngày nay, vẫn c̣n hai trở ngại chính cho sự hợp nhất. Về quyền tối
thượng của đức giáo hoàng, vấn đề được đặt ra là đức giáo hoàng có quyền cai
quản và dạy bảo toàn thể Giáo Hội hay không. Tây Phương tin rằng đức giáo hoàng
có thẩm quyền đó; Đông Phương tin rằng mọi thượng phụ, kể cả vị giám mục Rôma,
đều có quyền bằng nhau. Năm 1054, đức thượng phụ Constantinople, Micae
Caerularius, chỉ trích một vài thông lệ của Giáo Hội Tây Phương, và xưng hô với
đức giáo hoàng như một người anh em thay v́ coi là vị cha chung, và đức thượng
phụ từ chối không chịu tiếp đón các đại diện của đức giáo hoàng khi họ đến
Constantinople trong ba tháng. Sau cùng, các vị đại diện đă để lại trên bàn thờ
trong giáo đường của đức thượng phụ một Chỉ Dụ Tuyệt Thông và từ giă
Constantinople sau khi "phủi bụi dưới chân các ngài." Vài ngày sau, Đức Micae
Caerularius phản ứng lại bằng cách ra vạ tuyệt thông các đại diện và đức giáo
hoàng. Vạ tuyệt thông đôi bên này được duy tŕ măi cho đến năm 1965, khi Đức
Giáo Hoàng Phaolô VI gặp gỡ Đức Thượng Phụ Athenagoras trong ṿng tay thân ái và
cả hai đă cùng hủy bỏ vạ tuyệt thông ấy. Nhờ ơn Chúa, công việc tái hợp Chính
Thống Giáo và Công Giáo Rôma hiện đang được tiến hành cách tốt đẹp.
Bất kể những t́ tích của Giáo Hội, phúc âm của Đức Giêsu Kitô tiếp tục được loan
truyền. Trong thế kỷ mười một, Đan Mạch và Na Uy theo Kitô Giáo, sau đó không
lâu là Thụy Điển (1164). Nước Nga tiếp đón các nhà thừa sai từ Đông Phương và cả
Tây Phương, cho đến khi thái tử Nga quyết định rửa tội theo Giáo Hội Byzantine,
mà sau đó trở thành Giáo Hội Chính Thống Nga với vị thượng phụ ở Moscow.
Thế Kỷ Mười Hai
Trong thế kỷ này có quá nhiều chủ đề riêng biệt nên được chia ra thành các đề
tài sau:
1. Các tương giao giữa Giáo Hội và Nhà Nước ở Tây Phương: Đức giáo hoàng
và Hoàng Đế Rôma Thánh Thiện tiếp tục tranh giành quyền tuyển chọn các giám mục
và tu viện trưởng, măi cho đến khi có sự tương nhượng sau Thỏa Ước Worms năm
1122. Theo thỏa ước này, các giám mục và tu viện trưởng được tuyển chọn theo
luật của Giáo Hội, với quyền bổ nhiệm của nhà cầm quyền dân sự nếu muốn, và
trong nghi thức tấn phong Giáo Hội sẽ ban cho họ nhẫn và gậy giám mục. Như vậy,
đức giáo hoàng, tu viện trưởng, và các giám mục bị kẹt giữa hai thế giới, thế
giới quyền lực chính trị và thế giới lănh đạo tinh thần. Ở
Anh, Đức Tổng Giám Mục Tôma Becket của Canterbury tranh đấu cho quyền lợi và sự
tự do của Giáo Hội cho đến khi vua người Norman, là Henry II, buộc đức tổng phải
trốn sang Pháp trong ṿng sáu năm. V́ sự nổi tiếng của Đức TGM Tôma, nhà vua đă
cho phép ngài về nước năm 1170. V́ đức tổng tiếp tục ủng hộ đức giáo hoàng,
Henry nổi cơn thịnh nộ và một vài vệ sĩ của ông đă giết đức tổng ngay trên tam
cấp vương cung thánh đường Canterbury. Hành động hung ác này đă chấn động cả Âu
Châu. Đức giáo hoàng đă ra vạ tuyệt thông vua Henry, mà sau đó ông đă sám hối và
rút lại lời chống đối Giáo Hội. Đức Tôma Becket được tuyên xưng là thánh năm
1173 sau nhiều phép lạ xảy ra ở mộ của ngài.
2. Thập Tự Chinh. Những tranh chấp chính trị được các giáo hoàng coi là
cần thiết để duy tŕ sự tự do của Giáo Hội khỏi sự lũng đoạn và thống trị của
các nhà cầm quyền dân sự. Việc sử dụng quân đội và liên minh quân sự của các
giáo hoàng được coi là chính đáng v́ lư do tự vệ -- bảo vệ đất đai của đức giáo
hoàng và quyền cai trị Giáo Hội một cách tự do của đức giáo hoàng.
Tuy nhiên, các cuộc thập tự chinh là một trường hợp khác biệt. Thập tự chinh là
các cuộc viễn chinh có tính cách quân sự do Giáo Hội tổ chức để giải thoát Đất
Thánh khỏi sự kiểm soát của người Hồi Giáo, và để bảo vệ đức tin Kitô Giáo cũng
như bảo vệ người tín hữu đi hành hương. Thánh Augustine đă triển khai ư tưởng
"cuộc chiến chính nghĩa," và Giáo Hội tin rằng các cuộc thập tự chinh nằm trong
khuôn khổ ấy. Thật vậy, những người tham dự thập tự quân được Giáo Hội tha thứ
mọi h́nh phạt v́ tội lỗi của họ. Đức Urbanô II, người triệu tập Thập Tự Chinh I,
đă ngăn cấm tất cả các động lực bất chính khi tham dự thập tự quân, tỉ như v́
vinh dự hoặc lợi lộc thế tục.
Trên lư thuyết, các cuộc thập tự chinh có thể được coi là chính đáng, nhưng v́
bản tính yếu đuối con người, hậu quả của các cuộc chiến này thường rất bi thảm.
Thập Tự Chinh I là một thành công về quân sự, nhưng việc trục xuất các thượng
phụ Hy Lạp ở Antiôkia đă làm sâu đậm thêm sự chia cắt giữa Giáo Hội Đông Phương
và Rôma, và đoàn quân thập tự ấy đă bừa băi giết chết hàng trăm người vô tội khi
họ tái chiếm Giêrusalem.
Mặc dù Thánh Bernard ở Clairvaux đă cổ động cho Thập Tự Chinh II vào năm 1146,
nhưng đó là một thất bại về quân sự. Thập Tự Chinh III vào năm 1189 cốt để tái
chiếm Giêrusalem khỏi tay người Thổ Nhĩ Kỳ Saladin, nhưng tất cả những ǵ đạt
được chỉ là một thỏa ước đảm bảo sự an toàn cho Kitô Hữu khi đi hành hương ở Đất
Thánh. Hầu hết mọi người đều đồng ư rằng các cuộc thập tự chinh đă quá xa rời ư
định nguyên thủy, và tệ hại hơn nữa, sự tương giao giữa Kitô Giáo Đông và Tây
lại càng thêm suy yếu khi các nhà lănh đạo các cuộc thập tự chinh sau này đă
viễn chinh với các lư do thiếu thánh thiện.
3. Sự Canh Tân Giáo Hội và Lạc Giáo. Phong trào canh tân Giáo Hội Công
Giáo được bắt đầu trong thế kỷ mười một và tiếp tục sang thế kỷ mười hai. Thánh
Robert ở Molesme thành lập một đan viện ở Citeaux năm 1098, và đó là khởi đầu
của Ḍng Xitô. Một trong những đan sĩ trẻ tuổi của Xitô, tên Bernard, đă thiết
lập một chi nhánh ở Clairvaux năm 1116 và làm đan viện trưởng cho đến khi từ
trần năm 1153. Là một thầy giảng, một vị linh hướng, và thần học gia, Thánh
Bernard ở Clairvaux là vị lănh đạo canh tân đời sống tâm linh trong thế kỷ mười
hai. Không bao lâu ḍng Xitô có ảnh hưởng nhất trong Giáo Hội, vượt cả ḍng
Cluny, và sau cùng có đến sáu trăm đan viện được các tu sĩ Xitô thiết lập. Không
những các đan viện được mọc lên như nấm mà cả các linh mục triều cũng được canh
tân bởi các phong trào như Premonstratensian của Thánh Norbert, một người bạn
của Thánh Bernard.
(c̣n tiếp) |