|
Tháng 4-2003
PHÚC ÂM HÓA LÀ GÌ?
Sự phức tạp trong hoạt động Phúc Âm hóa
17. Trong hoạt động Phúc Âm hóa của Giáo hội, đương nhiên có vài yếu tố và khía cạnh
được đặc biệt chú ý. Một vài yếu tố và khía cạnh thật quan trọng, đến nỗi dễ bị tưởng lầm đó là chương trình Phúc Âm
hóa. Đã từng xảy ra trường hợp: định nghĩa Phúc Âm hóa như là tuyên xưng Chúa Kitô với những ai chưa biết Người, là rao giảng, là giáo
lý, là phép rửa tội và các bí tích khác.
Bất cứ định nghĩa từng phần và rời rạc - trong cố gắng tạo vẻ trung thực của Phúc Âm hóa về sự phong
phú, về sự phức tạp và năng động tính của chương trình , - chỉ có thể tạo cơ nguy làm nghèo nàn hoặc méo mó chương trình Phúc Âm hóa mà
thôi. Không thể nào nắm vững quan niệm về Phúc Âm
hóa, trừ khi chúng ta duyệt xét đầy đủ mọi yếu tố căn bản của chương trình.
Những yếu tố này được nhấn mạnh vào khóa chót Thượng Hội Đồng và còn là đề tài khảo cứu thường xuyên, như là kết quả công trình của Thượng Hội Đồng. Ta vui mừng thấy những yếu tố này, về căn bản, theo đúng đường lối các yếu tố mà Công đồng Vaticano II đã chuyển đạt đến Ta, đặc biệt nhất trong các thông điệp Lumen gentium
(Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội), Gaudium et spes (Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay) và Ad gentes
(Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội).
Canh tân nhân loại
18. Đối với Giáo hội, Phúc Âm hóa là đem Tin Mừng đến mỗi giai tầng trong nhân loại, và qua ảnh hưởng Tin Mừng, biến đổi và canh tân nhân loại:
"Giờ đây, Ta làm cho toàn thể tạo vật đổi mới". 46 Nhưng sẽ không có một nhân loại mới nếu trước tiên không có những người mới được trở nên mới qua phép Rửa tội, 47 và qua cuộc sống được sống đúng theo Tin Mừng. 48 Mục đích của Phúc Âm hóa chính là sự thay đổi nội tâm
này. Và để biểu hiện qua một câu nói, cách hay nhất là nói rằng: Giáo hội rao giảng Phúc Âm khi Giáo hội nhắm vào việc cải
hóa, 49 cải hóa duy nhất qua quyền lực thiêng liêng của sứ điệp mà Giáo hội rao giảng, cải hóa lương tâm mỗi người từng cá nhân và toàn thể, cải hóa các hoạt động của họ, cải hóa đời sống họ và môi trường cụ thể của họ.
Về các tầng lớp trong nhân loại
19. Các tầng lớp trong nhân loại đã được biến đổi: Đối với Giáo hội, vấn đề không chỉ là rao giảng Tin Mừng trong những vùng địa dư rộng lớn hơn, và cho những số người đông đảo hơn, nhưng còn làm ảnh hưởng và đảo lộn, qua quyền lực của Tin Mừng, các tiêu chuẩn phán đoán của loài người, các giá trị quyết định, các quan điểm lợi
ích, các đường lối suy nghĩ, các nguồn cảm hứng và các khuôn mẫu đời sống nào trái ngược với Lời của Thiên Chúa và với chương trình cứu rỗi.
Phúc Âm hóa các nền văn hóa
20. Tất cả những điều này được diễn tả trong lời sau đây: -
(không phải theo cách thức trang trí thuần túy bằng một lớp sơn mỏng bên ngoài như trước đây, nhưng theo cách thức sinh động, đi sâu và thẳng vào tận cội rễ) - trong ý nghĩa sâu rộng và phong phú được diễn tả trong Gaudium et
spes, 50 (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng) thì việc Phúc Âm hóa nền văn hóa cố hữu của con người và các nền văn hóa khác là
gì, nếu không phải là chú trọng đặt con người làm khởi điểm của mình và luôn quay trở về mối liên hệ giữa con người với
nhau, và giữa con người với Thiên Chúa.
Tin Mừng và Phúc Âm hóa, thật ra không đồng nhất với văn hóa. Tin Mừng và Phúc Âm hóa độc lập đối với mọi nền văn hóa. Tuy
nhiên, vương quốc mà Tin Mừng rao truyền đã được những người có liên hệ sâu xa với một nền văn hóa sinh sống, và việc kiến tạo vương quốc không thể tránh khỏi vay mượn các yếu tố của văn hóa nhân loại hoặc vay mượn các nền văn hóa. Dẫu là độc lập đối với mọi nền văn hóa, Tin Mừng và Phúc Âm hóa không nhất thiết tương phản lại chúng. Thông thường, Tin Mừng và Phúc Âm hóa có thể thẩm thấu qua
chúng, nhưng không trở thành lệ thuộc vào bất cứ một nền văn hóa
nào.
Sự chia cắt giữa Tin Mừng và văn hóa (-điều không còn nghi ngờ
gì) là thảm kịch của thời đại chúng ta. Do đó, phải cố gắng làm mọi
cách, để việc Phúc Âm hóa các nền văn hóa được trọn vẹn, hoặc nói chính xác hơn, mọi nền văn hóa phải được tái sinh trong sự gặp gỡ với Tin mừng. Duyên kỳ ngộ này sẽ không xảy
ra, nếu Tin Mừng không được rao giảng.
Tầm quan trọng chính của chứng nhân đời sống
21. Tin Mừng, trước tiên, phải được rao giảng qua chứng nhân. Hãy nêu ra một Kitô hữu hoặc một nhóm Kitô hữu sống giữa cộng đồng của họ; họ chứng tỏ khả năng hiểu biết và chấp nhận, chứng tỏ sự chia sẻ đời sống và vận mệnh với anh chị em
khác, chứng tỏ sự liên đới trong mọi nỗ lực thực hiện những gì cao thượng và tốt
lành. Giả dụ: họ chỉ phản ảnh một cách đơn giản không màu mè về niềm tin của họ vào những giá trị, vượt ra ngoài giá trị hiện hữu, về lòng hy vọng của họ căn cứ vào những điều khó nhìn thấy hoặc khó quan niệm được, thì qua chứng tá sống mà lời nói không diễn tả được, những người Kitô hữu ấy đã tạo ra những thắc mắc day dứt trong tâm can những ai nhìn vào cách họ sống: Tại sao họ như thế? Tại sao họ sống cách lạ lùng như vậy? Cái gì và người nào đã lôi cuốn họ? Tại sao họ hiện hữu giữa chúng
ta? Lối chứng tá này đã là lời rao giảng Tin Mừng cách thầm lặng, là lời rao giảng hùng tráng và hữu hiệu vô
cùng. Ở đây, chúng ta đã có một hành động khởi đầu cho chương trình Phúc Âm
hóa.
Những câu hỏi trên đây được đặt
ra, đối với một số người chưa hề nhận được lời rao giảng về Chúa
Kitô, hoặc là những người đã chịu phép rửa tội nhưng không sống đạo: họ sống với danh nghĩa Kitô hữu, nhưng trên nguyên tắc, không đúng với đường lối Kitô hữu; hoặc là những người khắc khoải đi tìm kiếm một điều gì hay một kẻ nào họ cảm nhận nhưng không nêu danh được, - một sự tìm kiếm trong khổ đau. Người chứng tá còn nêu lên những câu hỏi
khác, những câu hỏi sâu sắc và thúc bách hơn, về sự hiện diện, sự chia sẻ và tình liên đới, đó là yếu tố căn bản đầu tiên của chương trình Phúc âm
hóa. 51
Mọi người Kitô hữu được mời gọi làm chứng nhân và qua đường lối này, họ là những người rao giảng đích thực. Ta đặc biệt nghĩ đến trách nhệm được đặt trên những người di dân trong xứ sở đón nhận họ.
Nhu cầu tuyên xưng công khai.
22. Tuy nhiên, điều này không bao giờ đầy đủ, vì chứng tá diệu kỳ nhất vẫn tỏ ra không hữu hiệu lâu
dài, nếu nó không được giải thích, kiểm chứng, và được bày tỏ minh bạch bằng sự tuyên xưng rõ ràng không mập mờ về Chúa Giêsu
Kitô: điều mà Thánh Phêrô luôn gọi là "anh chị em hãy có sẵn câu trả lời cho những ai chất vấn về lý do niềm hy vọng mà anh chị em ấp ủ". 52 Tin Mừng, được tuyên xưng sớm hay muộn qua chứng nhân đời sống, cũng phải được tuyên xưng bằng lời hằng sống. Không có Phúc âm hóa chân thực, nếu danh
tánh, lời giáo huấn, cuộc đời, lời hứa, vương quốc và mầu nhiệm của Chúa Giêsu Nazareth, con Thiên Chúa không được tuyên xưng.
Lịch sử Giáo hội, kể từ bài giảng của Thánh Phêrô vào sáng ngày lễ Hiện Xuống trở đi, đã đồng hóa và được xem như lịch sử công cuộc tuyên xưng này. Vào bất cứ giai đoạn mới nào trong lịch sử nhân loại, Giáo hội luôn luôn gắn bó với lòng mong ước tuyên xưng, nhưng mang một ưu tư: ai sẽ được sai đi để tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Kitô? Theo chiều hướng nào, mầu nhiệm này được tuyên xưng? Làm thế nào bảo đảm được, nó sẽ vang dội và xâm nhập vào tâm hồn những người đón nghe? Sự tuyên xưng này, - gọi là kerygma, - là rao giảng, là giáo lý - chiếm giữ một vị trí quan trọng trong chương trình Phúc âm hóa - chương trình này thường trở thành đồng nghĩa với sự tuyên xưng. Thực ra, nó chỉ là một khía cạnh của Phúc âm hóa thôi.
Về một sự đón nhận có tính cách chủ yếu và cộng đồng
23. Thật vậy, sự tuyên xưng chỉ đạt được mức phát triển trọn vẹn khi nó được lắng nghe, đón nhận, hội nhập; và khi nó tạo được một sự gắn bó chân thật nơi người đón nhận nó. Một sự gắn bó vào sự thật mà Thiên Chúa, với lòng thương xót, đã mặc khải; hơn nữa, đó là sự gắn bó vào một chương trình đời sống, (-đời sống đã được cải hóa-) mà Người mời gọi. Tóm lại, sự gắn bó với vương quốc, có thể nói cách khác, với một "thế giới mới" với trạng thái mới về các sự vật, với cách hiện hữu mới, về cách sống mới, về sinh hoạt cộng đồng mới mà Tin Mừng khai diễn. Một sự gắn bó như thế không thể trừu tượng, phải được biểu lộ. Tự nó, nó đã bộc lộ cụ thể và rõ ràng qua lối đi vào trong cộng đồng của những người tin. Với cuộc sống đã được hoán cải, những người này bước chân vào cộng đồng, cộng đồng tự nó sẽ mang một dấu chỉ cải hóa, một dấu chỉ về sự đổi mới đời sống. Dấu chỉ này là Giáo Hội, một nhiệm tích hiện hữu của sự cứu độ. 53 Sự việc chúng ta bước chân vào cộng đồng Hội Thánh được biểu hiện qua nhiều dấu chỉ khác, tiếp nối liên tục, và trưng bày rõ dấu chỉ về Giáo Hội. Qua năng động tính của chương trình Phúc âm hóa, một cá nhân nào đón nhận Giáo Hội như là Ngôi Lời cứu rỗi, 54 thường thể hiện qua các hành động bí tích sau đây: sự gắn bó với Giáo hội, sự đón nhận các phép bí tích. Sự đón nhận này minh chứng và hỗ trợ sự gắn bó trên đây qua ân sủng hướng dẫn.
Hội nhập một chức tông đồ mới
24. Sau hết, người đã đón nhận Tin Mừng, sẽ làm công tác rao giảng Phúc Âm với những anh chị em khác. Đây là điều thử thách về sự thật, là định chuẩn của chương trình Phúc Âm hóa. Chúng ta khó mà quan niệm rằng một người đã chấp nhận Ngôi Lời và hiến mình cho vương quốc, lại không trở thành chứng nhân, tuyên xưng Ngôi Lời.
Để bổ túc cho những suy niệm về ý nghĩa Phúc âm hóa, một nhận xét chót sẽ giúp chúng ta làm sáng tỏ những suy nghĩ sau đây: Phúc âm hóa - như Ta đã đề cập - là một tiến trình phức tạp được tạo thành do nhiều yếu tố khác nhau: sự đổi mới nhân loại, sự chứng tá, sự tuyên xưng công khai, sự gắn bó nội tại, sự gia nhập vào cộng đồng, sự đón nhận các dấu chỉ, khởi xướng việc tông đồ. Những yếu tố này - hầu như mâu thuẫn nhau, thật ra chúng kết hợp khắng khít. Thật vậy, chúng bổ túc và tạo phong phú cho nhau. Mỗi yếu tố luôn được xem liên hệ với các yếu tố khác. Cái giá trị mà khóa Thượng Hội Đồng mới đây thâu đạt được, là luôn kêu gọi chúng ta liên hợp các yếu tố lại với nhau - thay vì đối chọi yếu tố này với yếu tố kia - để thấu triệt hoạt động Phúc âm hóa của Giáo
hội.
Đây là một viễn tượng toàn bộ mà Ta muốn phác họa qua sự khảo sát nội dung việc rao giảng Tin Mừng, duyệt lại các phương sách Phúc âm hóa, và minh thị: sứ điệp Tin Mừng đã được trao phó cho người nào, và hiện nay ai lãnh trách nhiệm về điều này.
Chú thích
46) Kh 21:5; 2Cor 5:17; Gal 6:15 - 47) Rom 6:4 - 48) Eph 4:23; Col 3:9-0 - 49) Rom 1:16; 1 Cor 1:18, 2:4 - 50) AAS 58 p 1075 - 51) Tertullian Apologeticum 39 - 52) 1 Pet 3: 15 - 53) Lumen Gentium 1, 9, 48 - 54) Rom 1:16; 1 Cor 1:18.
Tháng 5-2003
NỘI
DUNG CHƯƠNG TRÌNH PHÚC ÂM HÓA
Nội
dung căn bản và các yếu tố phụ
25.
Trong sứ điệp Giáo hội tuyên xưng có nhiều yếu tố
phụ. Cách trình bày các yếu tố này tùy thuộc phần lớn vào
sự thay đổi của mỗi hoàn cảnh. Những yếu tố này, tự
chúng cũng thay đổi. Tuy nhiên, nội dung căn bản, chất liệu
sống động, không thể nào sửa đổi hoặc quên đi mà không
làm loãng trầm trọng bản chất của chương trình Phúc Âm hóa.
Chứng
tá cho tình thương của Thiên Chúa Cha
26.
Việc ôn lại những điểm sau đây không phải là thừa thãi:
rao giảng Tin Mừng trước tiên là làm chứng, một cách đơn
giản và trực tiếp, về Thiên Chúa do chính Chúa Giêsu Kitô
đã mặc khải trong Chúa Thánh Thần; rao giảng Tin Mừng là làm
chứng rằng: qua Chúa Con, Thiên Chúa đã yêu thương loài người;
trong Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa đã đến với muôn loài
và mời gọi nhân loại sống đời sống vĩnh cửu. Có thể
đối với nhiều người, việc nhận biết Thiên Chúa là Ðấng
họ không biết, 55 không nêu danh tánh được, nhưng họ tôn
thờ, hoặc là Ðấng mà họ cố tìm kiếm do một sự thôi thúc
thầm kín trong con tim họ, sau khi đã trải qua, đã sống với
sự vô nghĩa, trống rỗng ở mọi thần tượng khác. Ðể đạt
trọn vẹn ý nghĩa rao giảng Tin Mừng, chúng ta phải bày tỏ
sự kiện, cho mọi người thấy được rằng: Ðấng Tạo Hóa
không phải là một quyền năng vô danh tánh và xa vời. Người
là Chúa Cha: ”... chúng ta được gọi là con Thiên Chúa; quả
đúng như vậy”. 56 Và
do đó, chúng ta là anh chị em trong Thiên Chúa.
Trung
tâm của sứ điệp: Sự cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô
27.
Phúc
Âm hóa luôn bao hàm một sự tuyên xưng rõ ràng như là nền
tảng, là trung tâm điểm và đồng thời là thượng đỉnh năng
động tính của chương trình, rằng: trong Chúa Giêsu Kitô, con
của Thiên Chúa đã làm người, đã chết, và sống lại từ
cõi chết: sự cứu rỗi được trao ban cho mọi người, như là
một ân sủng và lòng từ bi của Thiên Chúa. 57 Ðây không
phải một sự cứu rỗi nội tại, chỉ đáp ứng những đòi
hỏi vật chất hay tinh thần, giới hạn trong khung cảnh hiện
hữu trần thế, đồng hóa với những mong ước, những hy
vọng, những vấn đề và những cuộc chiến đấu ở trần
gian này.
Nhưng đây là một sự cứu rỗi vượt
qua mọi giới hạn, để được hoàn tất trọn vẹn trong
hiệp thông với một Ðấng duy nhất, Ðấng Tối Cao thiêng liêng.
Ðây là một sứ cứu rỗi hướng thượng, và là sự cứu
rỗi sau ngày tận thế, được khởi sự từ đời sống này,
nhưng sẽ hoàn tất tốt đẹp trong vĩnh cửu.
Dưới
dấu chỉ của hy vọng
28.
Do đó, Phúc Âm hóa bao hàm lời công bố tiên tri về ơn
gọi thâm sâu và quyết định đời sau của con người về
hai mặt liên tục và gián đoạn đối với tình trạng hiện
tại: nó vượt ra khỏi thời gian và lịch sử, vượt ra
khỏi thực tế chóng qua của trần thế này, vượt ra khỏi
mọi sự vật của thế giới này mà chiều kích bị che
khuất, sẽ được phát hiện tỏ tường vào một ngày nào đó,
vượt ra khỏi chính thân phận con người mà vận mệnh chân
thực không bị giới hạn trong khía cạnh trần thế, nhưng
sẽ được sáng tỏ trong cuộc sống tương lai. 58
Phúc Âm hóa cũng bao gồm việc rao giảng niềm hy vọng trong
lời hứa của
Thiên
Chúa, theo giao ước mới trong Chúa Giêsu Kitô. Nó bao gồm
việc rao giảng lòng yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng
ta và tình yêu thương của chúng ta đối với Thiên Chúa. Nó
bao gồm việc rao giảng tình yêu thương huynh đệ với mọi
người tức là khả năng ban phát và tha thứ, hỷ xả giúp đỡ
anh chị em chúng ta; khả năng này bắt nguồn từ lòng yêu thương
của Thiên Chúa, và là trọng điểm của Tin Mừng. Nó bao
gồm sự rao giảng về bí nhiệm của tội lỗi và sự hăng hái
tìm kiếm điều thiện hảo. Việc rao giảng luôn cấp bách
trong sự tìm kiếm chính Thiên Chúa qua việc cầu nguyện tức
là thờ phượng và cảm tạ, nhưng cũng qua sự hiệp thông
hội ngộ với Thiên Chúa, qua dấu chỉ trông thấy được,
tức là với Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô. Sự thông hiệp này
lại được biểu hiện qua việc thực hành những dấu chỉ
khác về Chúa Kitô đang sống, đang hoạt động trong Giáo
Hội: đó là các nhiệm tích. Sống các nhiệm tích bằng cách
này, tức là nâng cao sự xưng tụng các nhiệm tích lên tột
đỉnh, không phải như quan niệm của một số người cho
rằng: gây trở ngại và tạo sự sai lệch chương trình Phúc
Âm hóa. Trái lại nó hoàn bị chương trình này. Trong toàn
bộ, Phúc Âm hóa, vượt lên trên việc rao giảng một sứ điệp,
quay vào việc thiết lập Giáo hội. Giáo hội không hiện
diện được, nếu thiếu mất cái động lực, cái sức sống
nhiệm tích tràn đầy trong phép Thánh Thể. 59
Sứ
điệp cho đời sống toàn diện
29.
Nhưng Phúc Âm hóa không thể trọn vẹn nếu không quan tâm
đến tác động hỗ tương không ngừng giữa Tin Mừng và đời
sống cụ thể của con người, về cá nhân cũng như xã hội.
Ðây là lý do tại sao Phúc Âm hóa bao gồm một sứ điệp công
khai, thích ứng theo mọi hoàn cảnh khác biệt, diễn biến liên
tục, về quyền lợi và bổn phận mỗi con người, về đời
sống gia đình rất cần thiết cho sự tăng trưởng và phát
triển cá nhân, 60 về đời sống xã hội, về đời sống
quốc tế, hòa bình, công lý và phát triển - nói chung, đó là
một sứ điệp đặc biệt sinh động cho công cuộc giải phóng
ngày nay.
Một
sứ điệp giải phóng
30.
Những lời mà nhiều Giám
mục khắp năm châu đã nói lên về sứ điệp trên, trong khóa
họp Thượng Hội Ðồng vừa qua, đặc biệt nhất là nơi các
vị Giám mục thuộc Thế giới thứ ba. Lời phát biểu reo
vang rộn ràng tiếng nói của hàng triệu con cái Giáo Hội,
những con dân đã do Giáo hội gây dựng nên. Những dân tộc
này, như chúng ta biết, đã dấn thân với tất cả nghị
lực trong nỗ lực và phấn đấu, để vượt qua mọi trở
ngại kềm hãm họ, trói buộc họ sống bên lề cuộc đời:
đói khổ, bệnh tật triền miên, dốt nát, túng cực, bất công,
trong các mối tương quan quốc tế, và đặc biệt nhất trong
các thương vụ hối đoái, trong trạng thái kinh tế và văn hóa
của chủ nghĩa thực dân mới, đôi khi còn độc ác hơn chủ
nghĩa chính trị thực dân cũ. Như các Giám mục đã thường
nhắc nhở, Giáo hội có bổn phận công bố sự giải phóng
cho hàng triệu con người, nhiều người trong đó chính là con
cái mình.
Nhiệm
vụ ấy góp phần vào việc khai sinh công cuộc giải phóng này,
vào sự làm chứng tá cho nó, và bảo đảm cho cuộc giải phóng
được hoàn tất. Ðiều này quả không xa lạ với chương trình
Phúc Âm hóa.
Liên
hệ mật thiết với tiến bộ nhân loại
31.
Giữa công cuộc Phúc Âm
hóa và tiến bộ nhân loại -tức là phát triển và giải phóng-
quả thực có những ràng buộc sâu xa. Chúng bao gồm những ràng
buộc về mặt nhân loại học, vì con người được Phúc Âm
hóa không phải là một sinh vật trừu tượng, nhưng lệ
thuộc vào các vấn đề xã hội và kinh tế. Chúng cũng bao
gồm những ràng buộc về mặt thần học: vì trên căn bản,
không ai có thể tách rời công trình sáng thế khỏi công trình
cứu rỗi. Công trình cứu rỗi nhằm vào những tình trạng
rất cụ thể: về bất công cần phải tranh đấu xóa bỏ, và
về sự công bình cần phải thiết lập. Chúng cũng bao gồm
những ràng buộc tối ư quan trọng của Tin Mừng, tức là đức
bác ái: thật vậy, làm sao có thể rao truyền giới răn mới
mà không cổ võ sự thăng tiến đúng đắn và chân thực
của con người trong công lý và hòa bình? Chính Ta đã từng
quan tâm làm sáng tỏ điểm này, bằng cách nhắc nhở rằng:
không thể nào chấp nhận “trong chương trình Phúc Âm hóa,
một ai có thể hoặc lỡ quên đi mất tầm quan trọng của các
vấn đề đang được tranh luận ngày nay về các mặt công bình,
giải phóng, phát triển và hòa bình trên thế giới. Việc này
cũng giống như lãng quên bài học chúng ta nhận lãnh từ Tin
Mừng, về lòng yêu thương đồng loại đang đau khổ và túng
cực”. 61
Cũng
với những lời kêu gọi này, trong khi thảo luận về đề tài
nóng bỏng trên đây với sự hăng say, thông minh và can đảm,
làm Ta xiết bao vui mừng, Thượng Hội Ðồng đã cung ứng
những nguyên tắc sáng ngời để hiểu biết tường tận
tầm quan trọng và ý nghĩa sâu xa của sự giải phóng, như đã
được công bố và hoàn thành bởi chính Chúa Giêsu Nazareth, và
được rao giảng bởi Giáo hội.
Không
được cắt xén hoặc lẫn lộn
32.
Chúng ta không được quên
đi sự kiện sau đây. Nhiều người, kể cả những người
Kitô hữu đại lượng, rất nhạy cảm với các vấn đề đau
thương về giải phóng, mong ước Giáo hội dấn thân vào công
cuộc tranh đấu giải phóng. Họ thường có khuynh hướng
giảm giá sứ mạng của Giáo hội xuống theo chiều kích của
những chương trình trần thế đơn thuần. Họ cắt xén mục
tiêu Giáo hội theo mục tiêu hướng vào thân phận con người.
Sự cứu rỗi mà Giáo hội là sứ giả bị rút gọn vào sự
an ninh vật chất. Hoạt động Giáo hội, xem như sao lãng mối
quan tâm về đời sống siêu nhiên và tôn giáo, trở thành
những sáng kiến về mặt kinh tế và xã hội. Nếu sự việc
xảy ra như thế, Giáo hội sẽ mất đi cái ý nghĩa nền
tảng của chính mình. Sứ điệp giải phóng của nó không còn
chút độc đáo nào, và dễ bị bỏ ngỏ cho ý đồ chiếm
giữ độc quyền và cho sự thao túng của các hệ thống ý
thức hệ và của các đảng phái chính trị. Nó không còn chút
thẩm quyền nào để công bố sự tự do như khi nhân danh Thiên
Chúa. Ðây là lý do tại sao Ta mong ước nhấn mạnh, như Ta đã
từng ngỏ lời trong buổi khai mạc khóa họp Thượng Hội Ðồng,
về “nhu cầu tái lập rất minh bạch cứu cánh tôn giáo đặc
biệt của Phúc Âm hóa. Phúc Âm hóa sẽ mất lý do tồn tại,
nếu nó đi trệch ra khỏi cái trục tôn giáo dẫn lối chỉ
đường cho nó: đó là vương quốc Thiên Chúa, trước mọi
sự việc khác, trong ý nghĩa thần học trọn vẹn của nó...”
62
Sự
giải phóng trong Phúc Âm
33.
Về vấn đề giải phóng
mà Phúc Âm hóa công bố và phấn đấu để thể hiện, chúng
ta nên nói thế này:
-Nó
không thể chứa đựng trong phạm trù đơn giản và hạn hẹp
về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, nó
phải nhắm vào con người toàn bộ, về mọi khía cạnh, ngay
cả đến và bao gồm sự cởi mở của con người với tuyệt
đối, và cả với Ðấng Tuyệt Ðối.
-Do
đó nó gắn bó với quan niệm về con người. Nó không bao
giờ được hy sinh con người cho những nhu cầu của bất cứ
chiến lược nào, của bất cứ ứng dụng nào, hoặc của
bất cứ hiệu quả đoản kỳ nào.
Ðặt
trọng tâm vào vương quốc Thiên Chúa
34.
Do đó, khi rao giảng về
giải phóng và liên kết chính mình với những ai đang hoạt
động và đau khổ về vấn đề giải phóng, Giáo hội không
muốn giới hạn sứ mạng mình chỉ trong phạm vi tôn giáo và
tách rời mình khỏi những vấn đề trần thế của con người.
Tuy nhiên, Giáo hội xác nhận lại sự ưu tiên của ơn gọi
thiêng liêng mình, và phản đối việc thay thế sự tuyên xưng
vương quốc Thiên Chúa bằng sự tuyên xưng các hình thức
giải phóng con người. Giáo hội khẳng định rằng sự đóng
góp của mình vào việc giải phóng sẽ thiếu sót nếu quên
tuyên xưng sự cứu rỗi trong Chúa Giêsu Kitô.
Một
quan niệm Phúc Âm về con người
35.
Giáo hội gắn bó với
sự giải phóng và sự cứu rỗi của nhân loại trong Chúa Giêsu
Kitô. Nhưng không bao giờ đồng hóa với chúng, vì Giáo hội
nhận biết rằng: qua mặc khải, qua kinh nghiệm lịch sử và
qua phản ảnh của đức tin, không một ý niệm giải phóng nào
dù nhất thiết bền bỉ phù hợp với cái nhìn Phúc Âm về
con người, vạn vật và các sự kiện. Giáo hội cũng biết rõ
ràng, để cho vương quốc Thiên Chúa hiển trị, không hẳn là
phải thiết lập sự giải phóng, tạo dựng an sinh và phát
triển.
Và
điều quan trọng hơn, Giáo hội mang niềm xác tín mãnh liệt
rằng mọi giải phóng trần thế, mọi giải phóng chính trị
- dẫu rằng loại giải phóng này cố gắng tự biện minh
bằng cách trích dẫn trang này, trang kia trong Cựu ước hoặc
Tân ước, dầu rằng chúng rêu rao các nguyên lý ý thức hệ
và các quy tắc hành động được rút tỉa từ các dữ kiện
và kết luận thần học, dầu rằng chúng mạo nhận là môn
thần học ngày nay - những giải phóng trên đây đều mang
mầm mống tự hủy diệt, và thất bại không thâu đạt được
lý tưởng đề ra. Lý do là vì động cơ thúc đẩy thầm kín
của chúng không bắt nguồn từ sự công bằng bác ái. Lý do
là vì sự nhiệt thành của chúng thiếu sót chiều kích siêu
nhiên chân thực. Lý do là vì mục đích tối hậu chúng không
phải là sự cứu rỗi và hạnh phúc trong Thiên Chúa.
Cần
một sự cải hóa
36.
Giáo hội quan tâm rằng
điều rất quan trọng không chút nghi ngờ, là cần phải
dựng lên những cơ cấu nhân bản hơn, công chính hơn, tôn
nghiêm hơn về quyền hạn của con người, cũng như bớt áp
bức, bớt bóc lột. Giáo hội ý thức rằng các cơ cấu tốt
đẹp nhất và các hệ thống lý tưởng nhất sẽ dễ trở thành
phi nhân bản, nếu các khuynh hướng phi nhân bản của trái
tim nhân loại không trở nên lành mạnh, nếu không ai sống
trong các cơ cấu này hoặc cai trị chúng không trải qua một
sự cải hóa trong con tim và trong nhân sinh quan mình.
Loại
trừ bạo lực
37.
Giáo hội không thể
chấp nhận bạo lực, đặc biệt loại bạo lực vũ trang, -
loại này không kiểm soát được, một khi được thả lỏng
-, và những cái chết bừa bãi lót đường cho việc giải phóng.
Giáo hội ý thức bạo lực luôn tạo ra bạo lực, và làm
nảy sinh các hình thức đàn áp và nô dịch, thường khó
chịu đựng hơn những hình thức được họ rêu rao mang lại
tự do. Ta đã nói điều này rõ ràng trong chuyến hành trình
của Ta đến Colombia: “Ta kêu gọi các con đừng đặt để
niềm tin các con vào bạo lực và cách mạng: điều này trái
với tinh thần Kitô, và nó cũng có thể trì hoãn, thay vì thúc
đẩy xã hội tiến lên theo như các con khát vọng đúng với
luật pháp”. 63 Ta phải nói và xác nhận lại rằng
bạo lực không phù hợp với Tin Mừng và không là tinh thần
Kitô; và những thay đổi đột ngột hoặc bạo động về cơ
cấu là gian trá, là không hữu hiệu trong bản chất và đương
nhiên không thích hợp với nhân cách của mọi người”. 64
Sự
góp phần đặc biệt của Giáo hội
38.
Nói lên được điều này, Ta vui mừng thấy Giáo hội đang
ý thức nhiều hơn bao giờ hết về phương thức đứng đắn,
và về các phương tiện hoàn toàn sẵn có trong Phúc Âm, để
cộng tác vào công cuộc giải phóng cho nhiều người. Và Giáo
hội đang làm gì? Giáo hội đang cố gắng nhiều hơn để
khuyến khích số đông người Kitô hữu dấn thân trong công
cuộc giải phóng các dân tộc. Giáo hội đang cung ứng cho
những “anh hùng giải phóng” Kitô hữu này niềm khát vọng
đức tin, lòng nồng nhiệt yêu thương huynh đệ, điều giáo
huấn xã hội mà người Kitô hữu chân chính không thể quên
và phải dùng làm nền tảng cho sự khôn ngoan, cho kinh nghiệm
của mình, để áp dụng một cách cụ thể vào các phương
thức hành động, tham gia và dấn thân. Tất cả điều này
phải mang đặc tính tinh thần người Kitô hữu dấn thân mà
không chút nhầm lẫn về các thái độ chiến thuật, và về
việc phục vụ một hệ thống chính trị. Giáo hội luôn
chiến đấu để đưa sự đấu tranh Kitô hữu cho công cuộc
giải phóng vào chương trình hoàn vũ của sự cứu rỗi mà chính
Giáo hội rao giảng. Ðiều Ta vừa nhắc nhở đã được nói
lên nhiều lần trong các buổi tranh luận của Thượng Hội Ðồng.
Thật vậy, Ta đã đưa vào chủ đề này một số lời lẽ rõ
ràng trong bài diễn văn của Ta ngỏ cùng các Nghị Phụ trong
buổi bế mạc khóa họp Thượng Hội Ðồng. 65
Ước
mong rằng tất cả những điều quan tâm này giúp xóa bỏ ý
nghĩa lầm lẫn về danh từ “giải phóng”, thường được
dùng trong các ý thức hệ, trong các hệ thống và đoàn nhóm
chính trị. Giải phóng mà chương trình Phúc Âm hóa công bố
và xúc tiến, là giải phóng mà chính Chúa Kitô loan báo và
ban phát cho loài người bằng sự hy sinh của Người.
Tự
do tôn giáo
39.
Sự cần thiết đảm bảo quyền căn bản của con người
không thể tách rời khỏi sự giải phóng nay. Sự giải phóng
này gắn liền với chương trình Phúc Âm hóa, và cố gắng
duy trì các cơ cấu bảo vệ các quyền tự do nhân bản. Trong
những quyền căn bản của con người này, tự do tôn giáo
giữ một vị trí quan trọng hàng đầu. Ta vừa đề cập đến
tính chất xác đáng của vấn đề này, bằng cách nhấn
mạnh rằng: “biết bao nhiêu người Kitô hữu ngày nay vì
họ là Kitô hữu, vì họ là Công giáo, đang sống, đang bị
áp chế bởi các hệ thống khủng bố! Thảm kịch về lòng
trung thành với Chúa Kitô và với tự do tôn giáo vẫn tiếp
diễn, dầu rằng được ngụy trang bằng những tuyên ngôn
minh bạch cổ võ quyền con người và quyền sống trong xã
hội.” 66
Chú
thích:
55)
Tđcv 17:22-23 - 56) 1 Gio 3:1; Rom 8:14-17 - 57) Eph 2:8; Rom 1:16 - 58)
1 Gio 3:2; Rom 8:29; Phil 3:20-21 - 59) Tuyên Ngôn Bộ Ðức Tin AAS
65 p 396 - 60) Gaudium et Spes AAS 60 p 481 - 61) Paul 6 Khai mạc khóa
3 THÐ 27.9.74 AAS 66 (74) p 562 - 62) Ibid - 63) Paul VI AAS 60 (68) p
623 - 64) Paul VI, Day of Development AAS 60 p 627 - 65) Paul VI Bế
mạc THÐ AAS 66 (74) p 637 - 66) Paul VI Observ Rom 15.10.75
Tháng 6-2003
NHỮNG PHƯƠNG THỨC DÙNG CHO CÔNG CUỘC PHÚC ÂM HÓA
Tìm kiếm những phương tiện thích hợp
40. Tính chất quan trọng của nội dung chương trình Phúc Âm hóa cũng không được làm lu mờ tầm quan trọng của các thể thức và phương tiện.
Câu hỏi là "làm thế nào để Phúc Âm hóa" luôn xác đáng, vì các phương thức rao giảng Tim Mừng thay đổi theo hoàn cảnh khác nhau về thời gian, không gian, và văn hóa - và vì các hoàn cảnh này thường đưa ra một thách đố nào đó, đối với khả năng khám phá và thích nghi của chúng ta.
Đặc biệt chúng ta, những chủ chăn của Giáo Hội, có trách nhiệm điều chỉnh các phương tiện, với tinh thần khôn ngoan, nhưng tuyệt đối trung thành với nội dung công cuộc Phúc Âm hóa. Những phương tiện này phải thích hợp nhất và hữu hiệu nhất để truyền đạt sứ điệp Tin Mừng đến với mọi người, nam cũng như nữ, trong thời đại chúng ta.
Trong suy niệm này, Ta cần kể ra một số phương thức, vì lý do này hay lý do khác, có tầm quan trọng chính yếu.
Chứng nhân cuộc sống
41. Không cần nhắc lại những gì đã nêu ra. Ta thấy, trước hết cần phải nhấn mạnh điểm sau đây: Đối với Giáo Hội, phương tiện hữu hiệu nhất của việc Phúc Âm hóa là sự chứng tá về một cuộc sống Kitô hữu chân chính, đang tận hiến cho Thiên Chúa trong sự hiệp thông, mà không quyền lực nào hủy diệt được và đồng thời dâng hiến cho tha nhân với lòng nhiệt thành vô biên. Ta đã từng lên tiếng với một nhóm giáo dân mới đây: "Con người thời đại mới thích lắng nghe các chứng nhân hơn các giáo sư. Và nếu họ lắng nghe các giáo sư, chính vì các vị này là những chứng nhân" 67 Thánh Phêrô đã diễn tả điều này thật rõ ràng khi trưng ra thí dụ về một cuộc sống đạo đức và trong sạch - gương sáng này, dù không một lời nói ra, đã đánh động tâm hồn những người đã chối từ những lời chỉ dạy. 68 Do đó, chính với phẩm cách và đời sống mình, mà Giáo Hội sẽ Phúc Âm thế giới, nói cách khác, bằng sự chứng tá sống động về lòng trung thành của mình với Chúa Giêsu - chứng tá về sự khó nghèo và siêu thoát, về sự tự do khi đối đầu với các quyền lực thế trần - nói tóm lại, là chứng tá của sự thánh thiện.
Rao giảng sống động
42. Thứ đến, chúng ta cần nhấn mạnh đến sự quan trọng và cần thiết của việc rao giảng - "làm thế nào họ tin được vào Đấng mà họ chưa hề nghe nói đến? Và làm thế nào họ nghe nói đến, mà không có người rao giảng?... Cũng vậy, đức tin đến từ điều nghe nói đến, và điều được nghe biết đến từ việc rao giảng về Chúa Kitô." 69 Định luật này một lần đã được Thánh Tông đồ Phaolô trưng dẫn, ngày nay vẫn còn hiệu lực trọn vẹn.
Rao giảng, tuyên xưng bằng lời một sứ điệp, luôn luôn không thể thiếu được - chúng ta ý thức rõ ràng con người hiện đại chán ngấy các bài giảng; hiển nhiên họ thường chán chường không muốn lắng nghe - và, tệ hại hơn nữa, họ trơ trơ trước lời rao giảng - chúng ta cũng biết nhiều nhà tâm lý học và xã hội học nói lên quan điểm rằng con người hiện đại đã vượt lên trên nền văn minh của ngôn ngữ - ngôn ngữ ngày nay không còn hiệu lực và vô dụng. Người thời đại ngày nay sống trong nền văn minh của hình ảnh. Hẳn rằng những sự kiện này thúc đẩy chúng ta phải dùng đến những phương tiện hiện đại, sản
phẩm của nền văn minh này, trong mục đích truyền đạt sứ điệp Tin Mừng. Dĩ nhiên rất nhiều cố gắng đã được thực hiện về lãnh vực này. Chúng ta không thể không khen ngợi và khuyến khích phát triển các phương tiện nhiều hơn. Tuy nhiên, sự mệt mỏi ngày nay do các bài giảng trống rỗng cũng như giá trị xác đáng của nhiều hình thức truyền thông khác không được làm
suy giảm uy lực vĩnh cửu của ngôn ngữ, hoặc tước đoạt sự tin tưởng vào ngôn ngữ. Lời nói vẫn còn thích hợp, nhất là khi nó chuyên chở, truyền đạt quyền năng của Thiên Chúa. 70 Và đây là định đề mà Thánh Phaolô đã đưa ra: "Niềm tin đến từ điều được nghe", 71 vẫn còn giữ được tính chất xác đáng của nó; chính Lời Chúa một khi đã được nghe, dẫn dắt chúng ta đến niềm tin.
Phụng vụ Ngôi Lời
43. Việc rao giảng Tin Mừng này có nhiều hình thức, và lòng nhiệt thành hướng dẫn việc điều chỉnh những hình thức ấy hầu như vô giới hạn. Thật vậy, biết bao nhiêu biến cố trong cuộc sống và cảnh huống của con người đã tạo cơ hội cho việc trình bày khôn ngoan và sâu sắc về điều Thiên Chúa phải bày tỏ ra trong hoàn cảnh đặc biệt này hay hoàn cảnh khác - cần phải có một sự nhạy cảm tâm linh để đọc được sứ điệp của Thiên Chúa trong các biến cố ấy. Nhưng lúc mà việc phụng vụ được Công Đồng canh tân, gia tăng thêm giá trị lớn lao cho Phụng Vụ Ngôi Lời, thì quả thật sai lầm, nếu không nhận thấy trong bài giảng một công cụ quan trọng và rất thích hợp cho công trình Phúc Âm hóa. Dĩ nhiên, cần phải biết và ứng dụng tính chất thúc bách và khả năng của bài giảng, để có thể thâu đạt hết hiệu năng mục vụ của nó. Nhưng trên hết, cần phải xác tín và tận tâm vào đó với lòng hâm mộ. Lời giảng này, được xen vào cách duy nhất trong việc cử hành Thánh Lễ, đã nhận lãnh một uy lực và sung mãn đặc biệt từ nhiệm tích này, chắc chắn giữ một vai trò đặc biệt trong việc Phúc Âm hóa. Nó còn biểu lộ đức tin sâu xa của người tư tế, đã được thánh hóa và thấm đượm tình yêu. Người tín hữu tụ tập lại như một Giáo Hội Phục Sinh, cử hành bữa tiệc của Chúa hiện diện giữa họ, mong đón nhận nhiều lợi ích từ bài giảng. Họ sẽ đón nhận được nhiều lợi ích, nếu bài giảng đơn giản, rõ ràng, chính xác, dễ ứng dụng, thấm nhuần sâu đậm giáo huấn Tin Mừng và trung thành với Thánh Truyền, sống động với lòng nhiệt thành tông đồ và quân bình từ bản chất, tràn đầy hy vọng, bồi dưỡng niềm tin, mang lại hòa bình và hiệp nhất. Nhiều giáo xứ và cộng đoàn sống và gắn bó lại với nhau nhờ bài giảng ngày Chủ Nhật khi nó chứa đựng những phẩm chất này.
Ta cần thêm rằng, nhờ sự canh tân phụng vụ này, việc cử hành Thánh Lễ không phải chỉ là thời điểm duy nhất dành cho lời giảng. Bài giảng luôn có một vị trí và không được lãng quên khi cử hành tất cả các nhiệm tích, trong phần phụng vụ bán chính thức và trong các buổi hội họp của tín hữu. Truyền đạt Lời Chúa luôn luôn là một cơ hội ưu tiên.
Dạy giáo lý
44. Một phương tiện Phúc Âm hóa không được lãng quên là việc giảng dạy giáo lý. Cách riêng, trí khôn của trẻ em và giới trẻ, cần học hỏi phần giáo huấn căn bản - qua sự giảng dạy về tôn giáo được hệ thống hóa. Phần này là nội dung sống động của chân lý, mà Thiên Chúa muốn truyền đạt đến chúng ta, và Giáo Hội đã tìm cách trình bày cho phong phú hơn theo suốt tiến trình dài của lịch sử mình. Không ai có thể chối cãi rằng: phần giáo lý này cần thiết cho sự hình thành những mô thức về đời sống Kitô hữu, và không chỉ là khái niệm suông. Nỗ lực Phúc Âm hóa sẽ thâu đạt kết quả lớn lao, tùy mức độ giảng dạy giáo lý ở nhà thờ, trường học, ở nơi nào có thể tổ chức được, ở mỗi trường hợp nơi nhà giáo dân, - nếu giảng viên được trang bị sách vở thích hợp, cập nhật hóa khôn ngoan và có trình độ, có phép của đấng bản quyền (Giám mục) - các phương thức phải thích ứng với lứa tuổi, văn hóa và năng khiếu của học viên - các phương thức này luôn được nhắm vào cách ghi khắc vào trí nhớ, vào đầu óc, vào tâm can những chân lý căn bản cần thấm đượm suốt đời. Điều cần thiết trước tiên, là chuẩn bị những giảng viên giỏi - giảng viên giáo lý trong giáo xứ, giáo viên, phụ huynh - những người tha thiết đến việc tự thánh hóa trong nghệ thuật thượng đẳng này, một nghệ thuật rất cần thiết và đòi hỏi có căn bản giáo dục tôn giáo. Hơn nữa, song song với việc không lãng quên dạy dỗ trẻ em, chúng ta thấy hoàn cảnh hiện tại còn đưa ra một nhu cầu giáo lý cấp bách hơn, dưới hình thức giáo lý tân tòng, cho giới trẻ và lớp trưởng thành - họ là những người được ân sủng đánh động, khám phá dần dần khuôn mặt Chúa Kitô và cảm thấy cần dâng hiến mình cho Người.
Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
45. Ta đã từng nhấn mạnh: thế kỷ chúng ta mang đặc tính về truyền thông đại chúng, hoặc nói cách khác về các phương tiện truyền bá xã hội. Và việc tuyên xưng đầu tiên, việc giảng dạy giáo lý hoặc việc củng cố thêm niềm tin không thể thực hiện được, nếu không có những phương tiện này.
Khi được dùng vào việc phục vụ Tin Mừng, những phương tiện ấy có khả năng gia tăng hầu như vô giới hạn địa hạt mà ở đó, Lời Thiên Chúa được loan truyền. Chúng đem Tin Mừng đến tận muôn dân. Giáo Hội cảm thấy có lỗi trước Thiên Chúa, nếu không sử dụng những phương tiện dũng mãnh này, mà tài năng loài người làm hoàn chỉnh mỗi ngày một hơn. Chính qua những phương tiện này, Giáo Hội loan truyền "trên các mái nhà" 72 (cách công khai) sứ điệp mà Giáo Hội được ký thác. Nói chung, Giáo Hội tìm thấy một lối diễn tả tân tiến và hữu hiệu thay thế cho tòa giảng. Nhờ chúng, Giáo Hội thành công khi lên tiếng với đông đảo quần chúng. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội về công cuộc Phúc Âm hóa đưa ra một thách đố: qua các phương tiện này, sứ điệp Tin Mừng phải đến với số người đông đảo, nhưng nó phải có khả năng xuyên sâu vào lương tri mọi người, ghi sâu vào trái tim họ - như thể chỉ một mình họ đón nhận được, với tất cả bản tính cá nhân và riêng tư của mình và gợi lên nơi họ một gắn bó và cam kết riêng tư với sứ điệp này.
Cần phải có sự tiếp xúc cá nhân
46. Vì lý do này, song song với việc loan truyền tập thể về Tin Mừng, một hình thức truyền đạt khác, hình thức diện đối diện, vẫn hiệu lực và quan trọng. Chính Chúa thường dùng nó (trường hợp gặp gỡ Nicôđêmô, Zakêu, người phụ nữ Samaria, Simon người Pharisêu). Và các Tông đồ cũng làm như thế. Kinh nghiệm ghi nhận không có cách nào khác để rao giảng Tin Mừng tốt đẹp hơn là cách truyền đạt đến người khác kinh nghiệm đức tin của chính mình. Điều nên tránh, là trước nhu cầu cấp bách loan truyền Tin Mừng muôn dân, chúng ta sao lãng mất hình thức tuyên xưng này - nhờ đó lương tri của mỗi cá nhân được vươn tới và đánh động bởi một thế giới duy nhất, mà họ đón nhận từ nơi anh chị em khác. Ta không có đủ lời để ca ngợi các Linh mục, - qua nhiệm tích Hòa giải hoặc qua đối thoại mục vụ, - tỏ ra luôn sẵn sàng hướng dẫn giáo nhân trên đường Tin Mừng, nâng đỡ họ khi họ cố gắng, dìu họ lên khi họ vấp ngã, và luôn trợ giúp họ với sáng suốt và tư thế sẵn sàng.
Vai trò các Nhiệm Tích
47. Không ai có thể nhấn mạnh một cách đầy đủ về sự kiện này: công trình Phúc Âm hóa không phải chỉ bao gồm việc rao truyền và giảng dạy một giáo thuyết. Vì vấn đề Phúc Âm hóa ảnh hưởng đến cuộc sống: nhờ đó, đời sống tự nhiên mang một ý nghĩa mới, từ các viễn ảnh Phúc Âm được mặc khải cho thấy; và nhờ nó, đời sống siêu nhiên không còn là sự chối bỏ đời sống tự nhiên, mà là sự thanh tẩy và thăng hoa của đời sống tự nhiên.
Đời sống siêu nhiên đạt được vẻ biểu hiện sống động của nó trong bảy nhiệm tích và trong sự chiếu tỏa rực rỡ của ân sủng và sự thánh thiện được chứa chất bên trong.
Công cuộc Phúc Âm hóa sẽ phát huy trọn vẹn khả năng của nó, khi mối liên kết thâm sâu nhất - hoặc tốt đẹp hơn nữa - khi sự giao hòa vĩnh cửu và vẹn toàn giữa Ngôi Lời và các nhiệm tích được hoàn thành. Theo một chiều hướng nào đó, thật rất sai lầm khi tạo ra một sự tương phản giữa việc Phúc Âm hóa và nhiệm tích hóa, như đã từng xảy ra. Hiển nhiên điều sau này là đúng: có lúc các nhiệm tích được ban phát, nhưng thiếu mất sự hỗ trợ vững chắc của phần giáo lý riêng về các nhiệm tích này, hoặc toàn bộ giáo lý kèm theo. Sự việc này có thể làm các nhiệm tích mất đi rất nhiều hiệu lực. Vai trò của việc Phúc Âm hóa chính là giáo huấn dân chúng về đức tin, để hướng dẫn mỗi Kitô hữu sống các nhiệm tích ấy như là những nhiệm tích đích thực của đức tin - và không được nhận lãnh các nhiệm tích này thụ động hoặc miễn cưỡng.
Lòng đạo đức trong dân gian
48. Ở đây, chúng ta đề cập đến một khía cạnh của chương trình Phúc Âm hóa, mà chúng ta không được thờ ơ. Ta muốn nói đến vấn đề mà ngày nay thường được gọi là lòng sùng tín dân gian.
Ai ai cũng thấy giữa tầng lớp dân chúng những biểu hiện đặc biệt về việc tìm kiếm Thiên Chúa và đức tin, ở những vùng mà Giáo Hội đã được thiết lập hàng bao thế kỷ, và ở những vùng Giáo Hội đang trên đà sắp được thiết lập. Những biểu hiện này, trong suốt thời gian dài, được xem như kém tinh khiết, hoặc đôi khi bị khinh miệt. Nhưng ngày nay, chúng xuất hiện hầu như khắp nơi. Suốt thời kỳ Thượng Hội Đồng, các Giám Mục đã nghiên cứu ý nghĩa các biểu hiện này trên khía cạnh mục vụ một cách rất nhiệt thành và thực đáng ghi nhớ.
Dĩ nhiên, lòng sùng đạo trong dân gian có những giới hạn của nó. Nó thường bị những bóp méo tôn giáo và cả những điều mê tín xâm nhập. Nó thường ở mức độ các hình thức thờ phượng thiếu sự thừa nhận chân chính của đức tin. Nó có thể dẫn đến việc tạo ra nhiều giáo phái, và gây nguy hại cho cộng đồng Hội Thánh chân thật.
Tuy nhiên, nếu được hướng dẫn đúng, trước tiên bằng khoa mô phạm Phúc Âm hóa, lòng sùng tín sẽ phong phú với nhiều giá trị. Nó biểu hiện niềm khao khát Thiên chúa mà chỉ người đơn sơ túng bấn mới nhận biết được. Nó làm cho con người biết rộng lượng và hy sinh tới độ trở thành anh hùng, khi cần biểu dương đức tin. Nó bao gồm sự nhận thức sâu sắc về các đặc tính sâu xa của Thiên Chúa: phụ tính, sự quan phòng, sự hiện hữu yêu thương và bất biến. Nó phát sinh ra những thái độ nội tâm mà chúng ta ít nhận thấy ở đâu khác (vào cùng mức độ ấy), sự kiên nhẫn, ý thức thập giá trong đời sống hàng ngày, lòng vô tư, sự cởi mở đối với tha nhân, lòng sốt mến. Qua các khía cạnh này, chúng ta gọi nó là "lòng đạo đức dân gian" - nghĩa là tôn giáo của người dân thay vì sự sùng đạo.
Đức bác ái mục vụ phải xác định cho tất cả những ai được Chúa đặt để làm người lãnh đạo các cộng đồng Hội Thánh, một thái độ thích nghi đối với thực tại này - một thực tại hết sức phong phú nhưng rất mong manh. Trước tiên, chúng ta phải biết nhạy cảm với vấn đề này, biết nhận định các chiều kích nội tại và các
gía trị hiển nhiên của nó, sẵn sàng giúp nó vượt qua những cơ nguy lạc hướng.
Một khi được hướng dẫn đúng, sự mộ đạo bình dân này có thể ngày càng trở nên cuộc gặp gỡ chân thực với Thiên Chúa, - qua Chúa Giêsu Kitô -, cho vô số người trong quảng đại quần chúng.
_________
67) Paul VI 2.10.74 - 68) 1 Pet 3:1 - 69) Rom 10:14 17 - 70) 1 Cor 2:1-5 - 71) Rom 10:17 - 72) Mt 10:27; Lc 12:3
Chương V
NHỮNG
NGƯỜI THỤ HƯỞNG CHƯƠNG TRÌNH PHÚC ÂM HÓA
Nhắn
nhủ mọi người
49.
Lời
nói sau cùng của Chúa Giêsu, trong sách Tin Mừng Thánh Marcô,
đề cập đến công cuộc Phúc âm hóa mà Người ủy thác cho
các tông đồ thực hiện phổ quát không giới hạn: “Hãy đi
khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho muôn loài”. 73
Mười
hai tông đồ và các Kitô hữu thế hệ đầu tiên đã thấu
hiểu rõ ràng bài học chứa đựng trong đoạn này, và các đoạn
tương tự khác. Từ đó, họ đã đưa ra một chương trình hành
động. Các cuộc khủng bố, tuy làm ly tán các tông đồ, đã
quảng bá “Lời Chúa” và thiết lập Giáo hội đến tận
những vùng đất xa xôi. Sự việc Thánh Phaolô được kết
nạp vào hàng ngũ các tông đồ và sức mạnh đoàn sủng
của Ngài, như một thừa tác viên rao giảng cho dân ngoại (không
phải là người Do Thái) về ngày Chúa Giêsu sẽ đến, càng làm
nổi bật hơn tính chất phổ cập này.
Vượt
qua mọi trở ngại
50.
Suốt
hai mươi thế kỷ xuôi giòng lịch sử, các thế hệ Kitô
hữu đã liên tiếp đối đầu với bao nhiêu trở ngại, để
thi hành sứ mạng hoàn vũ này. Một mặt, một số các thừa
tác viên rao giảng Tin Mừng có khuynh hướng, vì những lý do
nào đó, thu hẹp phạm vi hoạt động truyền giáo của mình.
Mặt khác, sự phản kháng của dân chúng, thường rất nặng
nề, theo sức loài người không thể vượt qua, đã xảy ra vì
lời của người rao giảng. Hơn nữa, Ta phải đau buồn ghi
nhận rằng: công tác Phúc âm hóa của Giáo hội nếu không
được trù liệu, đã bị chống đối dữ dội bởi một số
các quyền lực công. Quả vậy, ngay trong thời đại chúng ta,
những người rao giảng “Lời” Thiên Chúa đã bị tước đoạt
các quyền hạn, bị đàn áp, bị hăm dọa, bị cô lập vì
rao giảng về Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Nhưng Ta
tin tưởng rằng: dầu chịu nhiều thử thách cay đắng, hoạt
động của các tông đồ này không bao giờ kết thúc trong
thất bại, bất cứ tại phần đất nào trên địa cầu.
Dầu đối
đầu với các nghịch cảnh, Giáo hội luôn canh tân niềm
hứng khởi sâu xa của mình, niềm hứng khởi này đến với
Giáo hội trực tiếp từ Thiên Chúa: đến với toàn thể
thế giới! Ðến với muôn loài! Ðến ngay cả những nơi
tận cùng trái đất! Giáo hội đã nhắc nhở điều này như
một lời kêu gọi, vào khóa họp cuối Thượng Hội Ðồng
rằng: không nên giam hãm việc loan truyền Tin Mừng bằng cách
hạn chế nó vào một khu vực địa dư nào của nhân loại, vào
một giai cấp dân tộc nào, hoặc vào một loại văn minh đơn
thuần nào. Một vài thí dụ rất hiển nhiên.
Lời
tuyên xưng trước nhất cho những người còn xa lạ
51.
Phát
hiện Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người cho những ai chưa
nhận biết, đó là chương trình chủ yếu, kể từ sáng sớm
ngày lễ Hiện Xuống, mà Giáo hội đã nhận lãnh từ Ðấng
Sáng Lập Giáo Hội. Toàn bộ Tân Ước và riêng sách Tông Ðồ
Công Vụ mang chứng tích cho một giai đoạn đặc biệt và gương
mẫu về nỗ lực truyền giáo này, vì thế sự kiện này đã
được ghi dấu trong toàn bộ lịch sử Giáo hội.
Giáo
hội đã hoàn tất lời tuyên xưng đầu tiên về Chúa Giêsu
Kitô qua một chương trình hoạt động phức tạp và đa
diện, đôi khi được gọi là chương trình “tiền Phúc âm hóa”,
tuy trong thực tế, đã thực sự là Phúc âm hóa rồi trong
giai đoạn đầu tiên tuy còn thiếu sót. Hàng loạt những phương
tiện có thể dùng cho mục đích này: ví dụ, bên cạnh việc
rao giảng công khai, còn có nghệ thuật, khảo cứu khoa học,
khảo cứu triết học và các phương thức đánh động tình
cảm trong trái tim con người.
Canh
tân sự tuyên xưng cho một thế giới suy thoái tinh thần Kitô
giáo
52.
Lời
tuyên xưng đầu tiên này muốn đặc biệt ngỏ cùng những ai
chưa bao giờ được nghe Tin Mừng của Chúa Giêsu, hoặc cùng
các trẻ em. Nhưng, như là một kết quả của tình trạng suy
thoái tinh thần Kitô giáo thường xảy ra trong thời đại chúng
ta, nó cũng còn cần thiết cho số dân đông đảo đã nhận lãnh
phép rửa, nhưng vẫn đứng ngoài lề cuộc sống Kitô hữu,
cho những người dân chất phác có chút niềm tin, nhưng lại
hiểu biết nông cạn về căn bản niềm tin này, cho những trí
thức cảm thấy cần biết Chúa Giêsu Kitô qua một ánh sáng
khác với những điều đã học hỏi lúc ấu thơ, và còn cho
bao nhiêu người khác nữa.
Các
tôn giáo ngoài Kitô giáo
53.
Lời
tuyên xưng đầu tiên cũng được ngỏ cùng các tầng lớp tín
đồ trong nhân loại đang theo các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Giáo
hội tôn trọng và quý mến các tôn giáo ngoài Kitô giáo này,
vì họ đã biểu hiện một cách sống động tâm hồn của
tập hợp rộng rãi dân chúng. Các tôn giáo này chất chứa
lời vang, vọng lại từng ngàn năm trong nỗ lực tìm gặp Thiên
Chúa, một sự tìm kiếm không trọn vẹn nhưng thường rất
thành tâm và công minh từ đáy lòng. Các tôn giáo này tích lũy
một gia sản phong phú cho các chủ đề sâu sắc về tôn giáo.
Các tôn giáo này đã dạy cho hàng bao thế hệ loài người
biết cách cầu nguyện. Các tôn giáo này đều thấm đượm
biết bao nhiêu “mầm sống của Lời Chúa” 74 và có thể an
bài một “sự chuẩn bị chân thực để đón nhận Tin
Mừng”, 75 một lời ngợi khen mà Công đồng Vaticanô II đã
mượn từ Eusebius thành Caesarea.
Trong
một cảnh huống như vậy, nhiều vấn nạn phức tạp và tế
nhị được nêu lên. Những câu hỏi này phải được nghiên
cứu trong ánh sáng của Thánh Truyền Kitô Giáo và huấn dụ
của Giáo hội, để giúp cho các nhà truyền giáo ngày nay và
tương lai khám phá những chân trời mới, khi họ tiếp xúc
với các tôn giáo ngoài Kitô Giáo. Trước hết, hôm nay Ta
muốn nhấn mạnh rằng: lòng kính trọng và quý mến các tôn
giáo này, cũng như tính chất phức tạp của các vấn nạn trên
không phải là một lý cớ khuyến khích Giáo hội che dấu
sự loan truyền Chúa Giêsu Kitô với các tôn giáo ngoài Kitô
giáo. Trái lại, Giáo hội nắm vững điều này là: muôn vàn
dân chúng có quyền được biết đến tài sản phong phú trong
mầu nhiệm của đấng Cứu Thế 76 - nguồn phong phú mà Ta tin
rằng: trong đó toàn thể nhân loại có thể khám phá trọn
vẹn không chút nghi ngờ, mọi điều đang được tìm kiếm dò
dẫm về Thiên Chúa, về con người và vận mệnh, sự sống,
sự chết và chân lý. Ðối diện với các biểu hiện tôn giáo
tự nhiên rất đáng được ngưỡng mộ đó, Giáo hội cũng
khẳng định rằng: tôn giáo của Chúa Giêsu mà Giáo hội tuyên
xưng qua công cuộc Phúc âm hóa, một cách khách quan, đặt để
con người liên hệ với chương trình của Thiên Chúa, với
sự hiện hữu sống động của Người và với sự hoạt động
của Người. Nhờ đó, Giáo hội tạo nên sự gặp gỡ với
mầu nhiêm về tình phụ tử thiêng liêng bao trùm nhân loại.
Nói cách khác, tôn giáo chúng ta thiết lập hữu hiệu một liên
hệ chân chính và sống động với Thiên Chúa - điều mà các
tôn giáo khác không thành công để thực hiện - dẫu rằng
họ giang tay vươn lên Thiên Ðàng, như đã từng xảy ra.
Ðây là
lý do tại sao Giáo hội luôn giữ cho tinh thần rao giảng của
mình luôn sống động, hơn nữa Giáo hội còn mong ước gia tăng
cường độ này mãnh liệt hơn trong giòng lịch sử mà chúng
ta đang sống. Giáo hội nhận thức trách nhiệm trước toàn
thể nhân loại. Giáo hội sẽ không nghỉ ngơi khi chưa cố
gắng hết sức mình để rao giảng Tin Mưng của Chúa Giêsu,
Ðấng Cứu Chuộc. Giáo hội luôn luôn chuẩn bị những thế
hệ tông đồ mới. Hãy cho Ta nói lên sự việc này với
niềm vui, là đã có lúc không thiếu gì người nghĩ và nói
rằng: sự nhiệt thành và tinh thần tông đồ đã khô cạn cũng
như thời đại rao giảng đã trôi qua. Thượng Hội Ðồng đã
trả lời rằng: công cuộc tuyên xưng truyền giáo không bao
giờ ngưng, và Giáo hội luôn phấn đấu để hoàn thành
việc tuyên xưng này.
Nâng
đỡ niềm tin của những người tin
54.
Không
bao giờ Giáo hội cảm thấy khỏi phải quan tâm tha thiết đến
những ai đã nhận lãnh đức tin, và đến những ai gắn bó
với Tin Mừng, qua hàng bao thế hệ. Giáo hội tìm cách làm sâu
đậm thêm, củng cố, nuôi dưỡng và làm trưởng thành hơn
niềm tin của những ai đã được gọi là tín hữu, hoặc là
những kẻ tin, để niềm tin họ luôn được gia tăng.
Niềm
tin này, ngày nay, hầu như luôn đối đầu với chủ nghĩa
thế tục và chủ nghĩa vô thần đấu tranh. Ðây là một
niềm tin thử thách trong gian nan, trong đe dọa và hơn nữa -
một niềm tin bị bao vây và luôn bị tích cực chống đối.
Nó dễ bị tiêu diệt vì bị bóp nghẹt, vì khô cằn không
được nuôi dưỡng và săn sóc mỗi ngày. Do đó, việc Phúc
âm hóa phải luôn được nối tiếp bằng cung cấp thức ăn
cần thiết, và chăm sóc đến niềm tin của những người
tin, nhất là qua giáo lý dồi dào mạch sống Tin Mừng, và qua
một lời nói thích ứng với mọi người trong mọi hoàn
cảnh.
Giáo
hội cũng mang một nỗi cô đơn thấm thía đối với những
Kitô hữu không còn giữ được sự hiệp thông trọn vẹn
với Giáo hội. Trong khi còn đang chuẩn bị với họ về sự
hiệp nhất mà Chúa Kitô mong muốn, nhất là để thể hiện
sự hiệp nhất trong chân lý, Giáo hội nhận thức rằng: mình
đã thiếu sót lớn lao trong nhiêm vụ, nếu không trình bày
được cho họ chứng tá về mặc khải trọn vẹn mà Giáo
hội bao quản.
Những
người không tin
55.
Niềm
ưu tư của khóa cuối Thượng Hội Ðồng về hai môi trường
cũng thật có ý nghĩa. Hai môi trường này hoàn toàn khác
biệt nhau nhưng đồng thời rất khăng khít với nhau, bởi
lẽ chúng khơi động lên công cuộc Phúc âm hóa, theo mỗi
chiều hướng khác nhau.
Môi trường
thứ nhất được gọi là sự gia tăng về vô tín ngưỡng
trong thế giới hiện đại. Thượng Hội Ðồng đã diễn tả
thế giới hiện đại bằng biết bao nhiêu nguồn tư tưởng,
giá trị và phản giá trị, những khát vọng âm ỉ hoặc
mầm mống của hủy diệt, những nhiệt thành cũ biến đi và
những nhiệt thành mới xuất hiện - nói chung, những điều
trên đây đang bị bao che bởi danh từ không minh thị này.
Từ
quan điểm siêu nhiên, thế giới hiện đại như đang mải
ngụp lặn trong cái mà một tác giả hiện đại đã mô tả là
“bi kịch của nền nhân bản vô thần”. 77
Mặt khác,
con người phải ghi nhận rằng trong tâm điểm của thế
giới đương thời, một hiện tượng gần như trở thành nét
đặc thù của nó: đó là trần tục chủ nghĩa. Ta không nói
đến trần thế hóa, - đó là sự cố gắng - mà tự nó là
chân chính và hợp lý, không trái nghịch với đức tin hoặc
tôn giáo - để khám phá ra trong tạo vật, trong mỗi sự
vật, mỗi sự kiện trong vũ trụ, những quy luật điều hành
chung một cách tự động, nhưng với niềm xác tín nội tâm
rằng: Ðấng Tạo Hóa đã đặt để những quy luật đó.
Trong chiều hướng này, khóa họp cuối của Công đồng đã
khẳng định sự tự trị hợp lý của văn hóa và đặc
biệt nhất là các ngành khoa học.78 Từ đây, Ta nghĩ đến
một chủ nghĩa duy trần thế, một quan niệm về thế giới,
mà theo quan niệm này, thế giới sẽ tự giải thích, không
cần nhờ vào Thiên Chúa. Thiên chúa do đó trở thành phù
phiếm và vướng mắc. Loại chủ nghĩa duy trần thế này,
nhắm vào xác nhận quyền năng của con người, nhưng lại
kết thúc bằng hoạt động không cậy trông vào Thiên Chúa, và
lại còn chối bỏ Người.
Những
hình thái mới về chủ nghĩa vô thần xem như bắt nguồn từ
chủ nghĩa vô thần duy nhân, không còn trừu tượng, siêu hình
nhưng thực tiễn, có hệ thống và đấu tranh. Tay trong tay
nối kết với loại chủ nghĩa thế tục vô thần này, chúng
ta hằng ngày đối đầu với một xã hội tiêu thụ - dưới
nhiều dạng thức rất khác biệt - với sự đeo đuổi tìm
lạc thú như giá trị tột đỉnh, với một lòng ham muốn
quyền lực và thống trị, và với đủ loại kỳ thị, đủ
loại khuynh hướng vô nhân đạo của “chủ nghĩa nhân
bản” này.
Mặt khác,
cũng trong thế giới hiện đại này - điều được xem là
nghịch lý - không một ai có thể chối bỏ sự hiện hữu
của những phương tiện như những bàn đạp rõ ràng dẫn đến
đạo Chúa Kitô, và những giá trị Phúc âm - ít nhất là dưới
hình thức một cảm giác trống vắng hoặc bâng khuâng. Quả
thật không quá đáng khi nói rằng: đang có một mời gọi bi
thảm và quyết liệt mong được Phúc âm hóa.
Người
không sống đạo
56.
Môi
trường thứ hai là những người không sống đạo. Ngày nay,
biết bao nhiêu người đã chịu phép Rửa mà một số đông
dầu rằng không chính thức chối bỏ phép Rửa tội, nhưng
họ đã hoàn toàn hờ hững và không sống xứng đáng với
nhiệm tích này. Hiện tượng không sống đạo đã xảy ra lâu
đời trong lịch sử Kitô giáo. Nó là kết quả của sự yếu
đuối tự nhiên, một sự bất liên tục trầm trọng mà ta
bất hạnh mang lấy trong người. Tuy nhiên, ngày nay, nó bộc
lộ vài nét đặc thù mới. Nó thường là kết quả của
hiện tượng mất gốc đặc biệt của thời đại chúng ta. Nó
cũng phát sinh từ sự kiện những Kitô hữu sông gần gũi
những người không tôn giáo và luôn đối đầu với ảnh hưởng
của vô tín ngưỡng. Hơn nữa, những người Kitô hữu không
sống đạo ngày nay, nhiều hơn số lượng người của các
thời đại trước, đã tự giải thích và biện minh tâm
trạng của họ bằng danh từ tôn giáo nội tâm, sự độc
lập hoặc chính xác bản thân.
Do đó,
có những người vô thần và vô tín ngưỡng một bên, vàn
hững người không sống đạo một bên, cả hai nhóm tạo thành
một trở lực lớn lao cho công cuộc Phúc âm hóa. Sự chống
đối của nhóm trước có dạng thức của một sự chối
bỏ, một khiếm khuyết để nhận thức được cái trật tự
mới của các sự vật, cái ý nghĩa mới của thế giới,
của đời sống và của lịch sử . Ðiều này không thể
xảy đến, nếu con người không khởi sự từ Ðấng tuyệt
đối thiêng liêng. Sự chống đối của nhóm thứ hai có
dạng thức của sự ù lì và thái độ thù nghịch của một
người thấy rằng mình là một phần tử trong gia đình, tưởng
rằng biết rõ và cố gắng thích ứng với gia đình, nhưng
lại không còn chút tin tưởng nơi gia đình nữa.
Chủ
nghĩa thế tục vô thần và không sống đạo được tìm
thấy ở lứa tuổi trưởng thành và thiếu niên, ở những người
lãnh đạo trong xã hội, ở hàng giáo phẩm, thuộc mọi trình
độ học vấn, và ở cả các Giáo hội lâu đời và các Giáo
hội trẻ trung. Hoạt động Phúc âm hóa của Giáo hội không
thể quên đi hai môi trường này cũng như không ngừng lại
khi đối diện với họ. Giáo hội luôn tìm kiếm những phương
tiện và ngôn từ thích hợp, để trình bày và liên tục trình
bày cho họ sự mặc khải của Thiên Chúa và niềm tin vào Chúa
Giêsu Kitô.
Tuyên
xưng với muôn dân
57.
Giống
như Chúa Kitô trong suốt thời kỳ rao giảng, giống như mười
hai Tông đồ trong ngày Lễ Hiện Xuống, Giáo hội cũng thấy
trước mắt mình tầng tầng lớp lớp các dân tộc đang trông
chờ Tin Mừng - và họ có quyền này - vì Thiên Chúa “muốn
tất cả mọi người được cứu rỗi và đạt được sự
hiểu biết trọn vẹn về chân lý”.79
Giáo
hội ý thức sâu xa nhiệm vụ rao giảng ơn cứu độ cho tất
cả mọi người. Giáo hội thấu hiểu rằng: sứ điệp Tin
Mừng không dành riêng cho một nhóm nhỏ những người được
khai tâm, ưu đãi hoặc tuyển chọn, mà trao ban cho mọi người,
và Giáo hội chia sẻ niềm thao thức của Chúa Kitô trước
cảnh tượng đám đông lạc lõng và nhọc nhằn, “như đàn
cừu thiếu mục tử”. Giáo hội thường nhắc lại lời Người:
“Ta xót thương tất cả dân này”.80
Nhưng
Giáo hội cũng ý thức rằng, để cho việc rao giảng Tin
Mừng hữu hiệu, Giáo hội phải truyền đạt sứ điệp mình
vào trái tim muôn dân, vào các cộng đồng tín hữu mà hoạt
động của họ có thể và phải vươn rộng đến những anh
chị em khác.
Những
“Cộng Ðồng Căn Bản” Kitô hữu
58.
Khóa
họp cuối Thượng Hội Ðồng quan tâm nhiều đến những
“cộng đồng nhỏ” này, hoặc nói cách khác, những
“cộng đồng căn bản”, vì chúng là đề tài được đề
cập thường xuyên trong Giáo hội ngày nay. Vậy chúng là gì?
Và tại sao chúng là thành phần thụ hưởng đặc biệt công
trình Phúc âm hóa và đồng thời, họ cũng lại là những
thừa tác viên rao giảng Tin Mừng?
Theo
những đoạn văn riêng biệt được nêu lên trong khóa họp,
những cộng đồng như thế này đang nẩy nở ít hoặc nhiều
khắp nơi trong Giáo hội. Chúng khác biệt nhau nhiều - hoặc
trong cùng một vùng - hoặc trong các vùng khác nhau.
Trong vài
vùng, chúng hình thành và phát triển, gần như không ngoại
lệ, trong Giáo hội, gắn bó với sinh hoạt Giáo hội, được
nuôi dưỡng bằng lời giáo huấn của Giáo hội và hiệp
nhất với các chủ chăn thuộc Giáo hội. Trong những trường
hợp này, chúng nảy sinh từ nhu cầu muốn sống đời sống
của Giáo hội mãnh liệt hơn, hoặc từ khát vọng và đòi
hỏi một chiều kích nhân bản hơn, tựa như ở những cộng
đồng Kitô giáo rộng lớn hơn, nhất là ở các đô thị
hiện đại với ít nhiều khó khăn, họ có thể vừa tham gia
vào sinh hoạt trong đại chúng vừa vô tên tuổi.
Những
cộng đồng như vậy chỉ có thể, bằng phương thức riêng
của mình, bành trướng ở mức độ thiêng liêng và tôn giáo
- như phụng sự, củng cố đức tin, lòng bác ái huynh đệ,
cầu nguyện, tiếp xúc với các chủ chăn - trong cộng đồng
xã hội nhỏ tựa như xóm làng v.v... hoặc chúng nhắm vào
mục đích kết hợp lại với nhau, để lắng nghe và suy
niệm “Lời Chúa” trong nhiệm tích, và trong liên kết của
tình thương agapé; kết hợp những nhóm người theo tuổi tác,
văn hóa, giai cấp và hoàn cảnh xã hội: như những cặp vợ
chồng, những thanh thiếu niên, những người có nghề nghiệp
v.v...; kết hợp những nhóm người đã từng hợp nhất trong
việc đấu tranh cho công bằng bác ái đối với người nghèo
khó, cho tiến bộ nhân loại. Trong nhiều trường hợp khác,
chúng quy tụ các Kitô hữu lại với nhau ở những nơi thiếu
Linh mục, không duy trì được sinh hoạt bình thường của
một cộng đồng giáo xứ. Ðiều này đã được tiên liệu
kỹ càng trong các cộng đồng do Giáo hội dựng lên, nhất là
ở các Giáo hội địa phương và các giáo xứ.
Nhưng
mặt khác, ở nhiều vùng khác, “cộng đồng căn bản”
lại được liên kết trong tinh thần chỉ trích Giáo hội mà
chúng vội vã bôi xấu là “định chế” và đặt mình vào
vị thế chống đối với tư cách là những cộng đồng đoàn
sủng, thoát khỏi kiềm tỏa của mọi cơ chế và chỉ được
soi sáng bởi Phúc Âm mà thôi. Do đó đặc tính hiển nhiên
loại cộng đồng này là thái độ vạch lá tìm sâu và bác
bỏ mọi biểu thị bên ngoài của Giáo hội: như tôn ti phẩm
trật của Giáo hội, các dấu chỉ của Giáo hội. Từ trong căn
bản, chúng chống đối Giáo hội. Theo chiều hướng này,
nguồn cảm hứng chính của chúng thường dễ trở thành lý tưởng,
và việc đã từng xảy ra, là các cộng đồng này dễ biến
thành nạn nhân của một vài định kiến chính trị hoặc
của trào lưu tư tưởng, và do đó là nạn nhân của một
hệ thống, hoặc hơn nữa của một đảng phái, với nhiều cơ
nguy biến thành dụng cụ của họ.
Sự khác
biệt, thật ra, rất rõ ràng: các cộng đồng, với tinh thần
chống đối, đã tự chúng cắt đứt mối liên lạc với Giáo
hội, và làm tổn thương sự hiệp nhất của Giáo hội; dầu
rằng được mệnh danh là cộng đồng căn bản, nhưng đó
chỉ là danh từ thuần túy xã hội. Ðể tránh lạm dụng danh
từ, không được gọi chúng là cộng đồng căn bản trong
Hội Thánh, cho dẫu rằng chúng biện minh vẫn còn hiệp nhất
với Giáo hội, trong khi đó lại thù nghịch với hàng phẩm
trật. Danh từ “cộng đồng căn bản” chỉ dành cho các đoàn
nhóm khác, các nhóm này cùng tìm đến với nhau trong Giáo
hội để kết hợp với nhau nơi Giáo hội và làm cho Giáo
hội lớn mạnh.
Những
cộng đồng này sẽ là nơi dành cho công trình Phúc âm hóa, vì
lợi ích của những cộng đồng rộng lớn hơn, nhất là các
Giáo hội địa phương. Và, như Ta đã lên tiếng trong buổi
bế mạc khóa họp cuối của Thượng Hội Ðồng, chúng là
niềm hy vọng cho Giáo hội hoàn vũ về các phương diện này:
-Chúng
tìm sự nuôi dưỡng trong Lời của Thiên Chúa, không tự cho
phép mình vướng mắc vào sự phân cực chính trị và những
ý thức hệ thời trang - những thứ này sẵn sàng khai thác
tiềm năng nhân lực bao la của họ.
-Chúng
tránh được sự cám dỗ đương thời về sự chống đối có
hệ thống hoặc về thái độ chỉ trích khắt khe, nhờ vào tư
cách chính thống và tinh thần hợp tác của họ.
-Chúng
gắn bó chặt chẽ với Giáo hội địa phương mà họ đã
được sát nhập vào, và với Giáo hội hoàn vũ, nhờ đó tránh
được cái nguy hại thật lớn lao, là trở thành cô lập
rồi tưởng rằng chỉ riêng mình mới là Giáo hội chân chính
của Chúa Kitô, rồi lên án các cộng đồng khác trong Hội Thánh.
-Chúng
duy trì được sự hiệp thông chân tình với các chủ chăn mà
Thiên Chúa đã ban phát cho Giáo hội Người, và với quyền giáo
huấn, mà Thần Linh của Chúa Kitô đã phó thác cho những
chủ chăn này.
-Chúng
không bao giờ tự xem mình là thành phần thừa hưởng độc
nhất, hoặc là thừa tác viên độc nhất của công cuộc Phúc
âm hóa, hoặc là ký thác viên độc nhất của Tin Mừng. Trái
lại, với ý thức rằng Giáo hội rộng lớn hơn, đa diện hơn
nhiều, chúng chấp nhận sự kiện: Giáo hội này đã được
nhập thể vào nhiều đường lối khác nữa, chứ không chỉ
qua họ mà thôi.
-Chúng
luôn tăng trưởng trong ý thức truyền giáo, trong nhiệt thành,
quyết tâm và hăng say.
-Chúng
tự biểu hiện tính chất hoàn vũ trong mọi việc và không
bao giờ mang tính chất bè phái.
Với
những điều kiện chắc hẳn có tính cách đòi hỏi khắt
khe, nhưng lại thúc đẩy vươn lên cao, những cộng đồng căn
bản của Hội Thánh sẽ đáp ứng lại ơn gọi cốt yếu
của mình: là thành phần lắng nghe Tin Mừng được rao giảng
cho chính mình, và là những thừa hưởng viên ưu đãi của công
cuộc Phúc âm hóa, các cộng đồng này, tự chúng, sẽ sớm
trở thành những thành viên rao giảng Tin Mừng.
––––––––––-
73)
Mc 16:15 - 74) St Justin 1 Apol 46 - 75) Eusebius PG 21:26-28 - 76) Eph
3:8 - 77) Henri de Lubac Le drame de l'humanisme athée, Spes Paris 45 -
78) Gaudium & Spes 59 - 79) 1 Tim 2:4 - 80) Mt 9:36, 15:32.
CHƯƠNG VI
NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CHO CHƯƠNG TRÌNH PHÚC ÂM HÓA
Giáo hội: Người truyền giáo toàn bộ
59. - Nếu có những người rao giảng khắp thế giới Tin Mừng Cứu Rỗi, thì họ đã làm việc này theo mệnh lệnh và nhân danh Đấng Cứu Thế, cũng như với ân sủng của Chúa Kitô. "Chúng sẽ không bao giờ được đón nhận một vị truyền giáo, nếu người này không được sai đến", 81 lời này do một |